Tin tức - Sự kiện > Tin hoạt động sở > TỔNG HỢP TRẢ LỜI NỘI DUNG KIẾN NGHỊ DOANH NGHIỆP (Tại Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp 6 tháng đầu năm

TỔNG HỢP TRẢ LỜI NỘI DUNG KIẾN NGHỊ DOANH NGHIỆP (Tại Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2018)

18/07/2018
Thực hiện công tác đối thoại với doanh nghiệp định kỳ năm 2018, dự kiến vào sáng thứ 5, ngày 19/7/2018, tại Hội trường 2/9, tỉnh Gia Lai sẽ tổ chức Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 nhằm tăng cường hoạt động giao lưu, đối thoại giữa cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh với các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từng bước tạo môi trường kinh doanh thông thoáng lành mạnh.
           Để phục vụ cho công tác giải đáp kiến nghị của doanh nghiệp tại Hội Nghị, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh tổng hợp các ý kiến của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và gửi các Sở, ngành, các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trả lời như sau: 
          1/ Sở Kế hoạch và Đầu tư:
Câu hỏi 1.
Thời gian qua lĩnh vực thu hút đầu tư của tỉnh đã đạt những kết quả tiến bộ rõ rệt tuy nhiên vẫn còn tồn tại những trường hợp về thủ tục kéo dài thời gian, một số dự án chậm triển khai do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng và những nguyên nhân chủ quan khác, từ đó có sự lan truyền thông tin chưa tốt, ảnh hưởng đến tâm lý của DN. Trong thời gian tới, Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết công tác kêu gọi –thu hút đầu tư cần phải được thực hiện như thế nào để thật sự chuyên nghiệp hóa, đảm bảo thời gian qui định, hài lòng các nhà đầu tư?
Trả lời:
Trong thời gian tới để công tác kêu gọi – thu hút đầu tư thật sự chuyên nghiệp hóa, đảm bảo thời gian quy định, hài lòng nhà đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ chuẩn bị tốt những nội dung sau:
1. Tiếp tục tập trung cho công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng và công khai quy trình hướng dẫn thủ tục đăng ký để các nhà đầu tư hiểu rõ hơn và chủ động lập thủ tục đăng ký. Cụ thể như sau:
- Tiếp tục phối hợp với các địa phương để rà soát, công khai danh mục dự án kêu gọi đầu tư; quy định rõ các dự án phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư hoặc đấu giá quyền sử dụng đất để nhà đầu tư chủ động nghiên cứu.  
- Trên cơ sở các văn bản quy định của Trung ương, Sở sẽ xây dựng quy trình hướng dẫn các thủ tục hồ sơ đăng ký đầu tư theo các hình thức (PPP, dự án sử dụng đất có giá trị thương mại cao, dự án hiện thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất) để niêm yết công khai tại Sở và đăng trên Website của Sở. Đồng thời tăng cường công tác dịch vụ công để hỗ trợ và hướng dẫn nhà đầu tư hoàn chỉnh đầy đủ các thủ tục hồ sơ trước khi nộp hồ sơ 01 cửa của Sở Kế hoạch Đầu tư.
- Đối với những trường hợp nhà đầu tư đề xuất dự án chưa phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quỹ đất hoặc không phù hợp với lĩnh vực khuyến khích đầu tư của tỉnh thì Sở sẽ có văn bản trả lời ngay để nhà đầu tư không phải chờ đợi.
- Đối với những dự án thuộc danh mục kêu gọi đầu tư đã được UBND tỉnh phê duyệt, dự án không thuộc trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư hoặc đấu giá quyền sử dụng đất, nhưng đã phù hợp với các quy hoạch, kế hoạch thì nhà đầu tư lập thủ tục đăng ký để cấp Quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, không phải trình xin chủ trương khảo sát, lập dự án.
2. Tăng cường công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo mặt bằng sạch để thực hiện các dự án kêu gọi đầu tư:
Trong thời gian qua, Sở KH&ĐT đã phối hợp cùng với Sở Tài nguyên và Môi trường, các địa phương tiến hành khảo sát các quỹ đất thực hiện kêu gọi đầu tư cần phải GPMB. Qua đó, tham mưu đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh cho chủ trương ứng vốn từ Quỹ phát triển đất để các địa phương chủ động triển khai GPMB. Trong thời gian tới tiếp tục rà soát một số danh mục dự án cấp thiết theo trình tự ưu tiên để đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các địa phương nhanh chóng GPMB sạch để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kêu gọi đầu tư và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
Câu hỏi 2.
DN cần biết công tác đấu thầu của tỉnh ta hiện nay có mặt mạnh và mặt yếu gì? Tình hình thực hiện lựa chọn nhà thầu qua mạng theo Thông tư 07/2015/BKHĐT&BTC ngày 08/9/2015 của Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính tiến triển tới đâu?
Trả lời:
1. Kết quả thực hiện đăng tải thông tin trong đấu thầu:
Thực hiện Thông tư liên tích số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 08/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng, hầu hết các gói thầu trên địa bàn tỉnh được các Chủ đầu tư thực hiện việc đăng tải thông tin trên Hệ thống đấu thầu quốc gia như: Kế hoạch lựa chọn nhà thầu, Thông báo chào hàng cạnh tranh, thông báo mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu. Việc đăng tải thông tin cơ bản thuận lợi, giảm thiểu thủ tục không cần thiết; tuy nhiên, công tác tra cứu, tìm kiếm các nội dung đăng tải gặp nhiều khó khăn như: khó tra cứu các thông tin đăng tải trước đó hơn 01 tháng, nội dung tìm kiếm phải đúng ký tự in hoa hoặc in thường theo nội dung đã đăng tải…
2. Kết quả thực hiện việc lựa chọn nhà thầu qua mạng:Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo của các Chủ đầu tư, trong năm 2017đã tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng tổng số  55 gói thầu:
- Theo lĩnh vực đấu thầu: mua sắm hàng hóa: 07 gói; xây lắp: 48 gói.
- Theo hình thức lựa chọn nhà thầu: Rộng rãi trong nước: 12 gói; chào hàng cạnh tranh: 43 gói.
- Tổng giá trị dự toán gói thầu:93134 triệu đồng.
- Tổng giá trị trúng thầu: 88.940 triệu đồng.
- Chênh lệch: 4.194 triệu đồng, đạt tỷ lệ 95,4%.
Tất các các gói thầu đều được đánh giá theo phương pháp giá thấp nhất; không có gói thầu đấu thầu qua mạng nào bị hủy thầu.
Câu hỏi 3:
Ngày 17/4/2018,Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thay thế cho Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013. Tỉnh ta đã triển khai Điều 19 “Trách nhiệm của địa phương” của Nghị định này như thế nào?
 Trả lời:
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực thi hành ngày 17/4/2018).
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức 01 Hội nghị triển khai NĐ 57 (22/6/2018), đồng thời lấy ý kiến Dự thảo Thông tư hướng dẫn NĐ 57 và dự kiến sẽ ban hành trong thời gian sớm nhất.
Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định 57 tập trung chủ yếu vào hướng dẫn lập kế hoạch hỗ trợ đầu tư, giám sát đầu tư và chế độ báo cáo thực hiện Nghị định số 57/2018/NÐ-CP, có liên quan đến các nhiệm vụ địa phương phải triển khai quy định tại Điều 19 Nghị định 57 (Ban hành quyết định chủ trương đầu tư về danh mục dự án khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, lập kế hoạch hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp,…). Do đó, để đủ cơ sở triển khai NĐ 57, hiện phải chờ đến khi Thông tư hướng dẫn được ban hành.
Hiện nay, Sở Kế hoạch và Đầu tư đang tổ chức rà soát, phối hợp với các Sở, ngành lập Danh mục dự án thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trình UBND tỉnh phê duyệt; và dự kiến tổ chức công bố vào chương trình hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2018 của tỉnh Gia Lai.
Câu hỏi 4.
 Ngày 08/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2018/NĐ-CP về việc thành lập tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; Nghị định số 38/2018/NĐ-CP, ngày 11/3/2018 Quy định chi tiết về đầu tư cho DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.
Đề nghị tỉnh cho biết việc triển khai 2 Nghị định này như thế nào?
Trả lời:
Triển khai Luật Hỗ trợ DNNVV, Nghị định số 34/2018/NĐ-CP về việc thành lập tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; Nghị định số 38/2018/NĐ-CP, ngày 11/3/2018 Quy định chi tiết về đầu tư cho DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỉnh đã chỉ đạo và triển khai các nội dung:
- Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp cùng các Sở, ban, ngành tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 09/7/2018 về việc triển khai Chương trình khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2018-2020, theo đó các Sở, ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai một số nhiệm vụ được giao để hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân khởi nghiệp, phát triển.
- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND tỉnh triển khai Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 15/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp, đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành triển khai tham mưu Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, Kế hoạch hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, Đề án Hỗ trợ DNNVV, cơ chế đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, các nội dung hỗ trợ DNNVV: tiếp cận tín dụng, mặt bằng sản xuất, thuế, mở rộng thị trường, Hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung, hỗ trợ thông tin, phát triển nguồn nhân lực.  
Câu hỏi 5.
 Tỉnh ta có nhiều DN xuất khẩu trong lĩnh vực nông lâm sản nhưng chưa có DN kinh doanh dịch vụ Logictics để giúp cho DN giảm chi phí. Tỉnh đã có kế hoạch kêu gọi đầu tư về lĩnh vực này như thế nào?
Trả lời:
Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2016 tỉnh Gia Lai đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với Công ty CP Vinalines logistics Việt Nam dự án “ Cảng cạn (IDC) hoặc Trung tâm phân phối hàng hóa tại khu công nghiệp Nam Pleiku” với diện tích khoảng 10ha.
2/ Sở Nội vụ:
Câu hỏi:
Tỉnh có tổng hợp đánh giá trực tiếp sự “hài lòng” hoặc “không hài lòng” của DN và người dân sau khi làm các thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa của các sở, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố chưa? Nếu chưa, việc tổ chức đánh giá như thế nào và biện pháp chấn chỉnh nếu có nhiều DN “không hài lòng”?
Trả lời:
 1. Khảo sát sự hài lòng do tỉnh thực hiện
- Xây dựng và triển khai “Phần mềm đánh giá sự hài lòng của tổ chức, công dân đối với cán bộ, công chức và các cơ quan hành chínhtrên địa bàn tỉnh Gia Lai”
Sở Thông tin và Truyền thông đã xây dựng Phần mềm đánh giá sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với cán bộ, công chức và cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Gia Lai,phần mềm đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 11/2016tại địa chỉ http://dvc.gialai.gov.vn(tích hợp vào Cổng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 của tỉnh). Thực hiện văn bản số 1627/VP-KGVX ngày 04/11/2016 của UBND tỉnh về việc triển khai phần mềm đánh giá sự hài lòng của công dân, tổ chức, hằng quý, Sở Thông tin và Truyền thôngphối hợp với Sở Nội vụ báo cáo UBND tỉnh tình hình đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công của từng cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh dựa trên đánh giá của người dân, tổ chức thông qua phần mềm. Sở Thông tin và Truyền thông đã hướng dẫn các đơn vị, địa phương tích hợp lên các Trang thông tin điện tử, đầu tư thiết bị tại Bộ phận một cửa để phục vụ công dân, doanh nghiệp thực hiện đánh giá. Ngoài ra, cũng đã phối hợp với các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền, hướng dẫn công dân, tổ chức sử dụng.
- Triển khai điều tra xã hội học phục vụ xác định Chỉ số Cải cách hành chính (CCHC) các sở, ban, ngành tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố
- Năm 2016:Sở Nội vụ đã ban hànhvăn bản số 1096/SNV-CCHC ngày 08/8/2016 về việc hướng dẫn chấm điểm chỉ số CCHC và tổ chức khảo sát lấy ý kiến của người dân, tổ chức về chất lượng phục vụ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Theo đó, đã tổ chức điều traxã hội học 1.800 phiếu đối với người dân, doanh nghiệp (50 người dân, doanh nghiệp/cơ quan, địa phương x 36 cơ quan, địa phương([1])= 1.800 người/phiếu). Cách thức điều tra: Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả từng cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp phát phiếu điều tra cho người dân, doanh nghiệp có giao dịch hồ sơ TTHC tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và tổng hợp phiếu gửi về Sở Nội vụ phục vụ xác định Chỉ số CCHC năm 2016.
- Năm 2017: Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Quyết định số 652/QĐ-UBND ngày 24/8/2017, Sở Nội vụ đã ban hành Quyết định số 546/QĐ-SNV ngày 07/5/2018 về Kế hoạch điều tra xã hội học, phục vụ xác định Chỉ số CCHC của các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố năm 2017. Theo đó, tổ chức khảo sát 3.295 phiếuđối với 5 nhóm đối tượng([2])nhằm thu thập những thông tin đánh giá của các cấp, các ngành về kết quả thực hiện công tác CCHCvà khảo sát mức độ hài lòng của tổ chức, công dân tại các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn phục vụ xác định Chỉ số CCHCcủa cấp sở và cấp huyện năm 2017. Trong đó, khảo sát người dân, doanh nghiệp là 2.530 phiếu/3.295 phiếu.Cách thức điều tra: Sở Nội vụ hợp đồng với Bưu điện tỉnh điều tra xã hội học độc lập tại các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố. Hiện nay, Sở Nội vụđang tổng hợp kết quả điều tra phục vụ việc xác định Chỉ số CCHC của các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố năm 2017.
Căn cứ vào kết quả điều tra xã hội học để đánh giá thực chất, khách quan kết quả thực hiện công tác CCHC năm 2017 của các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện đồng thời đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, điều hànhđối với công tác CCHC cũng như đề xuất được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh như:
2. Khảo sát sự hài lòng do trung ương thực hiện
- Bộ Nội vụ phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức “Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước” (viết tắt Chỉ số SIPAS)
Thực hiện Quyết định số 2640/QĐ-BNV ngày 10/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt “Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017-2020” và Kế hoạch số 5918/KH-BNV ngày 28/9/2017 của Bộ Nội vụ về việc xây dựng “Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017-2020”,Bộ Nội vụ phối hợp với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam tiến hành điều tra xã hội học năm 2017 độc lập (các cơ quan của chính quyền địa phương không tham gia quá trình phát phiếu điều tra)tại 63 tỉnh thành với 33.900 phiếu, trong đó các tỉnh Loại I (tỉnh Gia Lai) là 690 phiếu.
Theo kết quả điều tra của Bộ Nội vụ, Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính của tỉnh Gia Lai là 74,29%. Trong 10 tỉnh Loại I (Cần Thơ, Đà Nẵng, Đăk Lăk, Đồng Nai, Gia Lai, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Nam, Sơn La, Thanh Hóa) thì Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính của tỉnh Gia Lai đứng thứ 9/10, thấp nhất là tỉnh Đăk Lăk (73,09%) và so sánh với 5 tỉnh Tây nguyên (Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng) thì tỉnh Gia Lai đứng thứ 2/5, sau tỉnh Đăk Nông (78,15%). So với 63 tỉnh, tỉnh Gia Lai nằm trong nhóm nửa số tỉnh có chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính thấp hơn chỉ số trung bình cả nước của Bộ Nội vụ đưa ra là 79,76%.
 - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với các tổ chức liên quan khảo sát người dân về “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh năm 2017” (viết tắt là Chỉ số PAPI)
Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) là công cụ phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp. Chỉ số PAPI là sản phẩm nghiên cứu hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) cùng với sự hỗ trợ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong cả nước.Đối tượng khảo sát là người dân (chọn ngẫu nhiên) đại diện cho dân số Việt Nam từ 18 tuổi trở lên tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khảo sát về 6 chỉ số nội dung([3]), 22 chỉ số nội dung thành phần, 92 chỉ tiêu chính, 516 câu hỏi về nhiều vấn đề chính sách của Việt Namnhằm hướng tới cải thiện hiệu quả phục vụ nhân dân của chính quyền địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Theo Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam, thì kết quả Chỉ số PAPI 2017 của tỉnh Gia Lai được tổng số 34,54 điểm/60 điểm tối đa (năm 2016 đạt 34,46 điểm), xếp vào nhóm đạt điểm thấp nhất và xếp vị trí 58/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  (năm 2016xếp vị trí 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương); trong 6 chỉ số nội dung có 04 chỉ số tăng điểm và 02 chỉ số thấp điểm hơn năm 2016.
Qua kết quả khảo sát của Bộ Nội vụ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Sở Nội vụ đã có báo cáo kết quả Phân tích kết quả Chỉ số SIPAS 2017, Chỉ số PAPI và đề xuất các giải pháp để duy trì, cải thiện trong thời gian tới nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước và cải thiện hiệu quả phục vụ nhân dân của chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh Gia Lai như:
- Xây dựng Chương trình hành động của UBND tỉnh về nâng cao các Chỉ số: PAPI, PAR INDEX, SIPAS giai đoạn 2018-2020; gắn với nâng cao nhận thức và quyết tâm trong hành động; thực hiện đồng bộ với Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 (ban hành tại Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 04/01/2012 của UBND tỉnh) và Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2016-2020 (ban hành tại Quyết định số 442/QĐ-UBND ngày 01/7/2016 của UBND tỉnh), coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các ngành, các cấp trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 và chương trình công tác của Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh  nhiệm kỳ 2016-2021; thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm 2016-2020.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu về các nội dung của Chỉ số PAPI, PAR INDEX, SIPAS gắn với trách nhiệm của các ngành, địa phương, trách nhiệm của người đứng đầu; đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả, thực hiện đổi mới phương thức hoạt động của các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành và hoạt động của UBND tỉnh.
- Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công và những quy định của pháp luật liên quan đến cung cấp dịch vụ công; bồi dưỡng “kỹ năng mềm” cho cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị, địa phương để nâng cao nhận thức, phục vụ nhân dân tốt hơn; thay đổi ứng xử của cơ quan nhà nước và người dân theo tinh thần “thân thiện, lắng nghe, thấu cảm, tận tâm”.
- Quan tâm đầu tư, nâng cấp hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin chính quyền điện tử tiến tới mục tiêu nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ, TTHC tại các cơ quan hành chính nhà nước các cấp và từng bước nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước.
- Chấp hành nghiêm các quy định về công khai, minh bạch thu, chi ngân sách, việc công khai phải lựa chọn hình thức và vị trí phù hợp để đảm bảo cho người dân có thể đọc được các thông tin trong báo cáo thu, chi của UBND cấp xã.
- Tăng cường trách nhiệm của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, cán bộ xã, phường, thị trấn trong việc tiếp công dân nhằm giải đáp ý kiến, kiến nghị cho người dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Có biện pháp xử lý nghiêm đối với những trường hợp không chấp hành tốt việc giải đáp ý kiến, kiến nghị của người dân khi được phản ánh nhằm đảm bảo việc giải quyết khúc mắc đạt kết quả tốt.
- Nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác giải quyết TTHC liên quan đến đời sống người dân như: cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, chứng thực, xác nhận... nhằm đảm bảo sự hài lòng của người dân trong việc giải quyết TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước, nhất là ở UBND cấp xã, cơ quan chuyên môn cấp huyện.
3/ Sở Thông tin và Truyền thông:
Câu hỏi 1.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào sản xuất kinh doanh, đăng ký kinh doanh qua mạng đặc biệt là sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 của DN tỉnh ta còn rất hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, Sở Thông tin và Truyền thông có kế hoạch khảo sát tình trạng ứng dụng CNTT và hỗ trợ, thúc đẩy DN tăng cường ứng dụng CNTT như thế nào trong thời gian đến?
Trả lời:
           Về Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào sản xuất kinh doanh, đăng ký kinh doanh qua mạng, đặc biệt là sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 của doanh nghiệp tỉnh ta còn rất hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, Sở Thông tin và Truyền thông có kế hoạch khảo sát tình hình ứng dụng CNTT và hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường ứng dụng CNTT như thế nào trong thời gian đến:
Hiện nay, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, toàn tỉnh đã triển khai được 341 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 117 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, tất cả được tích hợp vào Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh tại địa chỉ: http://dvc.gialai.gov.vn. Thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến này, công dân, doanh nghiệp có thể tra cứu thủ tục hành chính; tra cứu tình hình xử lý hồ sơ và đánh giá việc xử lý hồ sơ của cán bộ và cơ quan giải quyết hồ sơ.
Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bưu điện tỉnh và Ngân hàng VietinBank để hỗ trợ công dân, doanh nghiệp trong việc giải quyết thủ tục hành chính. Đối với Bưu điện, sẽ hỗ trợ thực hiện việc tiếp nhận, trả hồ sơ và hướng dẫn sử dụng hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4. Đối với Ngân hàng VietinBank, sẽ hỗ trợ thực hiện việc thanh toán phí, lệ phí qua mạng.
Đồng thời, các Sở, ban ngành và UBND cấp huyện đã thực hiện tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính qua mạng để tạo thuận lợi cho công dân, doanh nghiệp. Tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả, nếu công dân, doanh nghiệp chưa quen việc thực hiện qua mạng, cán bộ tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả sẽ hỗ trợ nộp hồ sơ qua mạng.
Trong thời gian đến, Sở Thông tin và Truyền thông sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh tiếp tục triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ công dân, doanh nghiệp. Trước mắt, trong năm 2018 sẽ tham mưu cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án “Xây dựng thành phố Pleiku theo hướng đô thị thông minh”. Theo tham mưu của Sở TT&TT, UBND tỉnh đã có văn bản giao Sở TT&TT tổ chức Hội thảo "Giáp pháp về xây dựng đô thị thông minh" (đã làm vào ngày 08/6/2017) và giao Sở Công Thương chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở TT&TT tổ chức Hội thảo về ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp, đẩy mạnh thương mại điện tử (trong năm 2018).
          Đối với các doanh nghiệp, Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị tiếp tục có các giải pháp phối hợp cụ thể đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào sản xuất kinh doanh, đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế qua mạng, sử dụng các hệ thống phục vụ doanh nghiệp mà tỉnh đã xây dựng (đặc biệt là giao tiếp với Cổng/Trang thông tin điện tử của tỉnh và của các đơn vị, địa phương; sử dụng các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; việc giải quyết các thủ tục hành chính); đồng thời kịp thời phản ánh các nội dung còn chưa đạt về thực hiện tính minh bạch và hiện đại hóa nền hành chính của các đơn vị, địa phương về Sở Thông tin và Truyền thông để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo.
Câu hỏi 2.
Định hướng để DN Gia Lai tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 ?
Trả lời:
           Về Định hướng để doanh nghiệp Gia Lai tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0:
        - Sở Thông tin và Truyền thông đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 2185/UBND-KGVX ngày 15/6/2017 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó, UBND tỉnh có chỉ đạo các Sở, ngành tham mưu các cơ chế chính sách về thuế, tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động đổi mới công nghệ; các chính sách để phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT và các công nghệ tiên tiến khác.
        - Sở Thông tin và Truyền thông sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các chính sách, kế hoạch nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
- Đối với các doanh nghiệp, Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị:
+ Cần đổi mới tư duy và thể chế quản lý cho phù hợp, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ để đáp ứng với tốc độ phát triển và hội nhập quốc tế.
+ Cần hạn chế nhập khẩu các công nghệ và thiết bị lạc hậu; tăng cường ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại vào một số lĩnh vực có lợi thế để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm với giá thành hợp lý, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Để tiếp cận cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4, việc đầu tư cho công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
+ Cần quan tâm đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào trong hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh
4/ Ngân hàng Nhà nước- Chi nhánh Gia Lai.
Câu hỏi 1:
          Hiện nay tàn tỉnh có trên 5.000 hộ và một số doanh nghiệp với diện tích trên 2.600 ha đủ điều kiện tham gia chương trình tái canh cà phê. Nhưng Chương trình này đang gặp khó khăn về nguồn vốn tín dụng, đa số nông dân không còn tài sản thế chấp để vay vốn, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp ngân hàng vay vốn cho mục đích khác hoặc chưa được cấp. Về phía doanh nghiệp, vốn chương trình này do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện, có doanh nghiệp tài sản thế chấp ở ngân hàng Thương mại khác không có gói vay này, cho nên cũng không vay được vốn.
Ngoài ra, về hạn mức cho vay 150 triệu đồng/ha và giải ngân thành 3 lần đều không phù hợp. Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh, Chi nhánh  Ngân hàng Nhà nước tỉnh xem xét kiến nghị trung ương tháo gỡ để đẩy mạnh thực hiện Chương trình tái canh cà phê này, tăng nguồn cung nguyên liệu cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê và tiêu dùng nội địa.
Trả lời:
1. Về Chương trình cho vay tái canh cây cà phê
Chương trình cho vay tái canh cây cà phê được thực hiện theo Quyết định số 4521/QĐ-BNN-TT ngày 21/10/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Văn bản số 3227/NHNN-TD và 3229//NHNN-TD  ngày 11/5/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;  Quyết định số 338/QĐ-UBND ngày 11/6/2015 và 587/QĐ-UBND ngày 05/9/2016 của UBND tỉnh Gia Lai. Theo đó:
- Việc cho vay tái canh cà phê được thực hiện theo 2 phương pháp trồng tái canh và ghép cải tạo do NHNo&PTNT thực hiện;
- Đối tượng vay vốn là các tổ chức, cá nhân thực hiện tái canh cà phê tại địa bàn các tỉnh khu vực Tây Nguyên. Điều kiện là tổ chức, cá nhân vay vốn để tái canh cà phê được UBND cấp xã xác nhận diện tích tái canh cà phê của khách hàng nằm trong kế hoạch tái canh cà phê của tỉnh;
- Mức cho vay do khách hàng và NHNo&PTNT thỏa thuận nhưng tối đa là 150 triệu đồng/ha đối với phương pháp trồng tái canh và 80 triệu đồng/ha đối với phương pháp ghép cải tạo;
- Thời hạn cho vay tối đa 8 năm đối với phương pháp trồng tái canh, trong đó thời gian ân hạn trả nợ gốc và lãi là 4 năm; tối đa 4 năm đối với phương pháp ghép cải tạo, trong đó thời gian ân hạn trả nợ gốc và lãi là 2 năm;
- Lãi suất cho vay trong thời gian ân hạn trả nợ gốc và lãi do NHNN công bố hàng năm nhưng không vượt quá 7%/năm. Lãi suất cho vay sau thời gian ân hạn trả nợ gốc và lãi do NHNN công bố hàng năm trên cơ sở mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 12 tháng của NHNo&PTNT cộng biên độ 2,5%/năm.
2. Về tình hình triển khai Chương trình cho vay tái canh cây cà phê
Thực hiện chỉ đạo của NHNN Việt Nam, NHNN chi nhánh tỉnh Gia Lai đã tích cực phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai trên địa bàn tỉnh. Trong đó quy định rõ mục tiêu, yêu cầu, phạm vi thực hiện, quy trình kỹ thuật, tiến độ, giống phục vụ tái canh cà phê,...
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện trong thời gian đầu gặp một số khó khăn nhất định, nguyên nhân chủ yếu là do sự vào cuộc chưa tích cực của chính quyền địa phương và do quy định Quy trình tái canh cà phê vối ban hành kèm theo Quyết định số 273/QĐ-TT-CCN ngày 03/7/2013 của Cục trưởng Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Để góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, NHNN chi nhánh tỉnh đã chủ động phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT và đến ngày 31/5/2016, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có Quyết định số 2085/QĐ-BNN-TT ban hành Quy trình trồng tái canh cà phê vối thay thế Quyết định số 273/QĐ-TT-CCN, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn.
Đồng thời, từ năm 2016, các ngân hàng cũng triển khai gói hỗ trợ tín dụng cho vay tái canh cà phê theo Dự án VnSAT, với các nội dung tương tự như Chương trình cho vay tái canh cây cà phê của Chính phủ, mức cho vay tối đa lên đến 270 triệu đồng/ha (chưa bao gồm hệ thống tưới tiết kiệm 130 triệu đồng).
Kết quả đến cuối tháng 6/2018, tổng dư nợ cho vay tái canh cây cà phê trên địa bàn tỉnh là 173,4 tỷ đồng, với diện tích tái canh là 2.125 ha, của 567 khách hàng (trong đó có 4 doanh nghiệp). Cụ thể: dư nợ theo chương trình tái canh của Chính phủ là 32,7 tỷ đồng, dư nợ theo chương trình dự án VnSAT là 131,7 tỷ đồng và dư nợ theo cơ chế thương mại thông thường là 9 tỷ đồng.
Về những khó khăn, vướng mắc do không còn tài sản thế chấp để vay vốn; chỉ có Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT thực hiện; hạn mức cho vay tối đa chỉ 150 triệu đồng/ha và giải ngân theo tiến độ thực hiện… Trong thời gian qua, NHNN chi nhánh tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo các chi nhánh NHTM tỉnh và kiến nghị NHNN Việt Nam tháo gỡ những vấn đề này và có thể nói đến nay Chương trình cho vay tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh đã cơ bản thuận lợi, đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp và người dân; diện tích tái canh hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch đã đề ra.
Câu hỏi 2:
Vào vụ cà phê, nông dân có nhu cầu bán nhiều cà phê quả tươi nhưng DN không đủ vốn, không đủ tài sản thế chấp để vay ngân hàng, phải vay ngoài lãi suất cao để thanh toán kịp thời cho nông dân, nên buộc phải hạ giá mua, dẫn đến thiệt thòi cho nông dân và kể cả DN.
DN kiến nghị Ngân hàng xem xét cho các DN thu mua cà phê tươi được vay tín chấp bổ sung trong thời vụ, trong thời hạn 45 ngày.
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: ”Tổ chức tín dụng có quyền tự chủ trong hoạt động cho vay và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình. Không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng”.
Do đó, việc cho vay có tài sản bảo đảm hay không có tài sản bảo đảm (vay tín chấp) là quyền tự chủ của tổ chức tín dụng trên cơ sở quy định nội bộ về cho vay của tổ chức tín dụng và mức độ tín nhiệm của khách hàng với tổ chức tín dụng đó, nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả của đồng vốn tín dụng.
Câu hỏi 3:
          Các DN chế biến nông sản kiến nghị các Ngân hàng Thương mại xem xét giảm lãi suất vay vốn, tạo điều kiện cho các DN giảm chi phí trong điều kiện khó khăn hiện nay.
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: ”Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”.
Tại khoản 2, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn: a) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định củaChính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; b) Thực hiện phương ánkinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại; c) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; d) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; đ) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao”.
Như vậy, ngoài lãi suất tối đa cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam áp dụng đối với 5 lĩnh vực ưu tiên quy định tại khoản 2, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (hiện là 6,5%/năm, riêng Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô áp dụng mức lãi suất tối đa là 7,5%/năm theo Quyết định số 1425/QĐ-NHNN ngày 07/7/2017) thì lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng.
Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc NHNN về giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng, trong 6 tháng đầu năm 2018, nhiều chi nhánh tổ chức tín dụng đã tiết giảm các chi phí để áp dụng giảm lãi suất cho khách hàng từ 0,5% đến 1% so với cuối năm 2017.
Câu hỏi 4:
 Các HTX nông nghiệp gặp khó khăn trong việc vay vốn ưu đãi theo Quyết định 68/2013 ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Kiến nghị Ngân hàng thương mại xem  xét tháo gỡ để HTX có thể vay nguồn vốn này.
Trả lời:
Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện đầy đủ các chương trình, chính sách tín dụng theo quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam, đặc biệt là Chương trình cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ; Chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ...
Kết quả đến cuối tháng 5/2018, dư nợ cho vay được hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg là: 27 tỷ đồng, với 33 khách hàng còn dư nợ là các hộ gia đình.
Riêng đối với các hợp tác xã chưa tiếp cận được nguồn vốn này vì đây là vốn tín dụng theo chính sách của Chính phủ với các điều kiện hết sức chặt chẽ như: máy móc, thiết bị phải mới và nằm trong Danh mục được Bộ Nông nghiệp & PTNT công bố; phải đáp ứng các điều kiện vay vốn của TCTD...
 Trong khi, theo phản ánh của các NHTM thì theo quy định hiện hành: nếu hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có nhu cầu vay vốn vượt quá số vốn thực góp của các thành viên hợp tác xã tại thời điểm xin vay, phần vốn vay vượt so với vốn thực góp phải được đảm bảo 100%, trong khi hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện có vốn điều lệ thực góp nhỏ nên không đảm bảo vốn đối ứng trong quá trình vay vốn ngân hàng, do vậy việc tiếp cận vốn vay ngân hàng, đặc biệt là nguồn vốn ưu đãi theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg bị hạn chế.
5/ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
Câu hỏi 1:
Tỉnh ta hiện nay thực trạng doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông nghiệp công nghệ cao-nông nghiệp sạch có mô hình nào đạt giá trị thương mại cao, có sức lan tỏa? Định hướng-giải pháp cụ thể thúc đẩy phát triển doanh nghiệp lĩnh vực này trong thời gian tới như thế nào?
Trả lời:
- Về công nghiệp chế biến: Tổng số cơ sở tham gia hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến làkhoảng trên7.004 cơ sở. Công nghiệp chế biến tập trung vào các sản phẩm chủ lực, lợi thế của tỉnh như cà phê bột, hồ tiêu, chè, hạt điều, đường, tinh bột sắn… tỷ lệ chế biến một số sản phẩm từ nguyên liệu chủ yếu trên địa bàn như sau:Đường tinh chế: Tỷ lệ chế biến đường tinh chế từ mía đạt 100%; Sắn: Tỷ lệ chế biến tinh bột sắn từ nguồn sắn nguyên liệu trên địa bàn tỉnh đạt 35,4%; Chè: Công suất 02 nhà máy trên địa bàn có công suất 52 tấn chè tươi/ ngày. Tỷ lệ chế biến chè đạt 100%; Hạt điều: 04 nhà máy điều cần nguyên liệu hoạt động với công suất 15.300 tấn nguyên liệu/năm, tỷ lệ chế biến đạt 100%, ngoài hạt điều nguyên liệu trong tỉnh, các đơn vị sản xuất còn nhập nguyên liệu từ Châu Phi về để chế biến; Cà phê: Tỉnh ta có 23 doanh nghiệp thu mua, sơ chế khoảng 95% tổng sản lượng cà phê nhân, để bán cho các doanh nghiệp khác xuất khẩu hoặc trực tiếp xuất khẩu. Khoảng 5% sản lượng được chế biến sâu bởi 25 doanh nghiệp (chủ yếu chế biến cà phê bột và cà phê hạt rang); Hồ tiêu: Tỷ lệ chế biến tiêu sọ trên địa bàn đạt 13,2%, sản lượng còn lại được xuất bán thô. Tỉnh có 01 cơ sở sơ chế, chế biến hồ tiêu xuất khẩu (Maseco) với công xuất 5.000 tấn/năm. Cơ sở này được đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, sang các nước nhập khẩu như Mỹ, châu Âu. Ngoài ra tỉnh có 02 cơ sở chế biến hồ tiêu đỏ, trắng và đóng gói bán thị trường trong nước, 02 cơ sở này có quy mô nhỏ, khoảng 300-500 tấn/năm; Cao su: Công suất các nhà máy trên địa bàn tỉnh 88.000 tấn, tỷ lệ chế biến cao su crepe đạt 100%, chưa sản xuất được các sản phẩm tiêu dùng từ cao su.
Trên địa bàn tỉnh hiện có các doanh nghiệp lớn đã