You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Kế hoạch > Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội, đảm bảo An ninh, Quốc phòng 5 năm 2016-2020 của tỉnh Gia Lai

Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội, đảm bảo An ninh, Quốc phòng 5 năm 2016-2020 của tỉnh Gia Lai

11/08/2016


     ỦY BAN NHÂN DÂN                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
          TỈNH GIA LAI                                               Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                       
    Số:            /KH-UBND                  Gia Lai, ngày       tháng       năm 2016
 
 
 
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI, ĐẢM BẢO AN NINH, QUỐC PHÒNG 5 NĂM 2016-2020 CỦA TỈNH GIA LAI  
 
CĂN CỨ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
1. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XV;
2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
3. Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 05 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020;
4. Công văn số 5316/BKHĐT-TH ngày 15/8/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020;
5. Nghị quyết số 148/2015/NQ-HĐND ngày 11/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai về tình hình thực hiện các chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2011-2015, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng 5 năm 2016-2020 của tỉnh Gia Lai.
 
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2011 – 2015
 
Tỉnh Gia Lai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 -2015 trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế thế giới và khu vực; nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật mới của Nhà nước được ban hành nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Các chính sách của tỉnh đã và đang phát huy hiệu quả; hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển; tình hình chính trị, xã hội ổn định; tạo được sự đồng thuận trong nhân dân; an sinh xã hội được đảm bảo.
Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, thách thức; sự suy giảm kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra trên nhiều quốc gia. Đầu kế hoạch 5 năm lạm phát tăng cao, hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn; thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; giá cả các loại nông sản, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu tăng, giảm bất thường,…đã tác động đến tốc độ tăng trưởng của một số ngành, lĩnh vực và đời sống của nhân dân.
Song được sự quan tâm, chỉ đạo của Trung ương, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát có hiệu quả của Hội đồng nhân dân, sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh nên đã vượt qua những khó khăn, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015.
I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
1. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Theo giá so sánh 1994, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 12,81%/năm, (mục tiêu kế hoạch đề ra là 12,8%/năm), trong đó ngành nông, lâm, thủy sản tăng 7,2%, ngành công nghiệp, xây dựng tăng 15,8%, ngành dịch vụ tăng 15,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh, đến năm 2015 ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 36,22%, ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 33,61%, ngành dịch vụ chiếm 30,17%; GDP bình quân đầu người đạt 39,1 triệu đồng [1].
2. Các chỉ tiêu chủ yếu:
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (theo giá cố định 1994) tăng bình quân 7,01%/năm, vượt kế hoạch 0,41%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ 38.000 tỷ đồng, tăng bình quân 24,04%/năm. Kim ngạch xuất khẩu 310 triệu USD, tăng bình quân 8,29%/năm, gấp 1,24 lần so với kế hoạch. Tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,28%, đạt 100% kế hoạch. Giải quyết việc làm 5 năm 2011-2015 là 119.965 người, vượt 4,3% kế hoạch. Tỷ lệ hộ nghèo năm cuối kỳ 11,67%, giảm 3,18%/năm, vượt kế hoạch. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 85%. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 19,4% (kế hoạch 17,6%). Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 đạt 31,1%. Số giường bệnh trên vạn dân đạt 24,4 giường. Số bác sỹ trên vạn dân đạt 7,18 bác sỹ. Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ đạt 80%. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 75,3%. Tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch > 99%. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 85%. Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom đạt 93%.
- Tuy nhiên giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994 tăng bình quân 15,45%/năm (kế hoạch 17,4%/năm). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 60.703 tỷ đồng, bằng 89,6% so với kế hoạch. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm cuối kỳ đạt 3.050 tỷ đồng; tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách hàng năm là 5,6%. Tỷ lệ che phủ rừng (kể cả diện tích cao su) năm cuối kỳ đạt 46,1%.
3. Kết quả thực hiện ba đột phá lớn về hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
Trên cơ sở các chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế thị trường, tỉnh đã cụ thể hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh.
- UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2020; các sở, ban ngành tập trung triển khai và bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Các trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề đã gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao động và thị trường lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng 10% so với năm 2010. Chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC được chú trọng.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng trong 5 năm qua đã phát triển mạnh; đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng 495km các đoạn Quốc lộ, 108,3 km đường tỉnh, 230,3 km đường huyện, 200km đường trục xã, hơn 630km đường giao thông nông thôn; cảng hàng không Pleiku được nâng cấp 3C lên 4C. Hạ tầng điện phát triển nhanh, đã đưa vào vận hành 15 nhà máy thủy điện với tổng công suất 345MW. Hạ tầng thủy lợi, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được đầu tư theo quy hoạch; 19 công trình thủy lợi được xây dựng phục vụ tưới 8.000 ha. Hệ thống cấp nước được cải thiện [2] ; Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn triển khai đạt hiệu quả. Hệ thống thương mại phát triển, theo hướng văn minh, hiện đại; đến nay có 87 chợ, 13 siêu thị, 286 cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Hạ tầng thông tin truyền thông phát triển nhanh, mật độ điện thoại đạt 100,53%/100 dân, tỷ lệ dân sử dụng internet đạt 41%. Hạ tầng đô thị triển khai đúng quy hoạch, không gian của thành phố Pleiku được mở rộng và hiện đại hơn; huyện Chư Sê đang đầu tư xây dựng đảm bảo các tiêu chí đô thị loại IV. Khu công nghiệp Trà Đa được đầu tư, mở rộng, nâng diện tích từ 109,3ha lên 197,83 ha, có 33 dự án đang hoạt động; có 11 cụm công nghiệp được phê duyệt, trong đó 04 cụm công nghiệp đi vào hoạt động[3], tỷ lệ lấp đầy đạt 27,7%. Hạ tầng văn hóa, xã hội được chú trọng đầu tư theo hướng kiên cố, chuẩn hóa. Các trường THCS được trang bị thiết bị dạy và học ngoại ngữ; các phòng học mầm non đã được kiên cố hóa. Hạ tầng y tế được đầu tư, nâng cấp ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã; Bệnh viện đại học y dược Hoàng Anh Gia Lai được trang bị nhiều thiết bị hiện đại, đã đi vào hoạt động tốt. Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại Đoàn Kết được xây dựng đã trở thành biểu tượng của các dân tộc Tây Nguyên. Hạ tầng công nghệ, thông tin đầu tư trang thiết bị thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm định, phục vụ cho quản lý và điều hành của các cơ quan nhà nước.
4. Thực hiện các cân đối về thu chi ngân sách nhà nước; xuất nhập khẩu, huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển
a) Thu – chi ngân sách nhà nước: Giai đoạn 2011 – 2015 là thời kỳ trung ương ban hành nhiều chính sách thuế mới ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của tỉnh; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến năm 2015 đạt 3.050 tỷ đồng [4]. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2015 là 8.172 tỷ đồng, tăng 1,75 lần so với năm 2010 và bằng 93,6% so với kế hoạch đề ra. Công tác quản lý điều hành ngân sách, lập dự toán chi ngân sách thực hiện đúng quy định; các nhiệm vụ chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, an ninh quốc phòng được đảm bảo. Chương trình hành động về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí triển khai tích cực.
b) Kim ngạch xuất nhập khẩu có bước tăng trưởng khá về cả quy mô và tốc độ; tăng bình quân 8,29%/năm [5], gấp 1,24 lần so với kế hoạch. Kim ngạch nhập khẩu gấp 3,73  lần so với năm 2010.
c) Tổng mức đầu tư toàn xã hội tăng lên hằng năm, trong 5 năm, tổng vốn đầu tư thực hiện 60.703 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2010, tăng bình quân 13,8%/năm, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm 17,38%, vốn ngoài nhà nước chiếm 82,62%. Tỷ trọng vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp và dân cư ngày càng tăng. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước được phân bổ tập trung, cơ bản không có nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển đem lại hiệu quả tích cực; hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển tương đối đồng bộ; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc.
5. Kết quả kiềm chế lạm phát, tái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện các nhiệm vụ, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực
a) Kết quả kiềm chế lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng trong thời kỳ giảm dần theo chiều hướng tích cực. Chỉ số giá năm 2011 là 18,13%; năm 2012 là 9,06%; năm 2013 là 5,62% và năm 2014 là 4,52%, dự kiến năm 2015 tăng khoảng 2-3%.
b) Tình hình thực hiện tái cơ cấu kinh tế
- Tái cơ cấu đầu tư công: Tỉnh đã thực hiện tốt Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung rà soát, loại bỏ các dự án đầu tư không hiệu quả; ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao, đưa vào sử dụng; bố trí vốn cho các dự án trọng điểm, cấp bách, hiệu quả và vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ dự án; ưu tiên cho các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; giao thông, y tế, giáo dục, quốc phòng, an ninh. Bố trí vốn cho các dự án khởi công mới theo đúng quy định. Với việc bố trí vốn chặt chẽ, số lượng các công trình khởi công mới giảm dần qua từng năm, hiệu quả của công tác quản lý đầu tư ngày càng tăng lên; các công trình đều được bố trí đủ vốn, không để xảy ra nợ đọng xây dựng cơ bản.
- Tái cơ cấu ngân hàng: Mạng lưới chi nhánh ngân hàng đã cơ bản đáp ứng công tác huy động vốn, chuyển tải vốn tín dụng, thanh toán… cho các tổ chức kinh tế và nhân dân [6]; tỷ lệ nợ chiếm khoảng 0,7%. Thực hiện quyết định của NHNN Việt Nam về việc kiểm soát đặc biệt Ngân hàng TMCP Đông Á và mua lại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu, UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo các ngành chức năng chủ động xử lý tình huống, đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng này bình thường và ổn định.
- Tái cơ cấu doanh nghiệp: Tiếp tục triển khai đúng tiến độ, đúng quy định phương án cổ phần hóa và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn; khẩn trương hoàn thành công tác cổ phẩn hóa đối với Công ty TNHH MTV Công trình đô thị và Công ty TNHH MTV cấp nước tỉnh ngay trong năm 2015; triển khai đúng phương án sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp của tỉnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1831/TTg-DMDN ngày 15/10/2015 [7].
6. Tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế
a) Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tăng bình quân 7,2%/năm, tăng 1% so với kế hoạch. Các cây lương thực lúa nước, ngô lai... ổn định về diện tích và nâng cao năng suất cây trồng. Đã định hình một số vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp gắn với các nhà máy chế biến. Công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất được chú trọng, góp phần làm tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm. Trong 5 năm đã trồng 29.773 ha cao su, đưa diện tích cao su toàn tỉnh lên 102.640 ha; cây tiêu trên 14.000 ha, tăng gấp 2,6 lần so với kế hoạch; mở rộng diện tích mía lên 38.000 ha (tăng 15.000 ha); cây cà phê và chè ổn định diện tích, tập trung tăng năng suất trên 1 ha cây trồng. Giá trị hàng nông sản đóng góp 82% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng năm 2015 đạt 83,76 triệu đồng/ha gấp 2,1 lần so với năm 2010. Ngành chăn nuôi phát triển khá và bước đầu được sản xuất theo hướng công nghiệp, hiện đại. Tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 8,4% năm 2010 lên 10% năm 2015. Tỷ lệ bò lai đến năm 2015 đạt 57%, tăng 21%. Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đã kịp thời khống chế, không để lây lan. Ngành lâm nghiệp đã trồng mới 7.000 ha rừng tập trung, đạt 32,7% so với kế hoạch. Tỉnh đã thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, giao khoán quản lý bảo vệ rừng 127.984 ha, gấp 1,2 lần năm 2010.
Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực, gắn với triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương. Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong nhân dân; đã tập trung mọi nguồn lực kết hợp đầu tư cho Chương trình; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, nhất là về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Dự kiến đến cuối năm 2015 có trên 22 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
            b) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị tăng thêm bình quân 15,8%/năm[8]. Cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển dịch phù hợp, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng từ 55,5% năm 2010 lên 63,5% năm 2015, công nghiệp khai khoáng giảm từ 4,3% xuống còn 1,6%. Nhiều nhà máy mới được đầu tư, mở rộng như: Xây mới 15 nhà máy thủy điện (tổng công suất 345MW), nâng công suất Nhà máy đường An Khê từ 6.000 tấn/ ngày lên 12.000 tấn/ngày; nhà máy đường Ayun Pa từ 3.000 tấn/ngày lên 6.000 tấn/ngày, nhà máy MDF từ 54.000m3/ngày lên 154.000m3/năm, đầu tư nhà máy chế biến sữa tươi của công ty cổ phần Nutifood với công suất 110 triệu lít/năm....
c) Các ngành dịch vụ ngày càng phát triển, mở rộng theo hướng hiện đại, quy mô hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ gấp 2,94 lần so với năm 2010. Thị trường hàng hóa phong phú đa dạng, sức mua tăng, mạng lưới mở rộng từ thành thị đến nông thôn. Thị trường giá cả ổn định; tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai tích cực, thiết thực.
Du lịch tăng trưởng ổn định, doanh thu tăng bình quân 4,19%/năm, gấp 1,22 lần so với năm 2010. Vận tải phát triển mạnh, doanh thu tăng 26%/năm, gấp 3,2 lần so với năm 2010. Bưu chính viễn thông phát triển nhanh cả về mạng lưới và chất lượng dịch vụ; doanh thu tăng bình quân 10,29%/năm. Các mặt hàng chính sách (muối iốt, giống cây trồng, phân bón, bò giống, sách giáo khoa, hỗ trợ tiền điện) cung ứng kịp thời, đúng đối tượng.
  d) Tình hình thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch ngành, sản phẩm
Giai đoạn 2011-2015 đã phê duyệt 34 quy hoạch[9]; riêng quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã phê duyệt cho 100% số xã (185 xã). Công tác quy hoạch đã có những tiến bộ đáng kể về chất lượng, có tính khoa học và thực tiễn hơn, tạo cơ sở cho công tác lập kế hoạch đầu tư xây dựng hàng năm ở các ngành, địa phương và kêu gọi đầu tư. Công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị được chú trọng, hầu hết các huyện, thị xã, thành phố đều có đề án quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm cơ sở để định hướng cho công tác quy hoạch ở các địa phương phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
7) Về văn hóa, xã hội, môi trường
a) Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển; chất lượng giáo dục và quy mô trường lớp học ngày càng tăng lên. Đến năm 2015 có 821 trường học (tăng 68 trường so với năm 2010), với 373.559 học sinh (kể cả nhà trẻ) tăng trung bình 1,8%/năm. Cơ sở vật chất giáo dục, đào tạo dạy nghề, thiết bị dạy và học được quan tâm đầu tư. Chất lượng giáo dục đã đi vào thực chất, từng bước khắc phục được tình trạng tiêu cực trong thi cử; chất lượng học sinh, sinh viên, đặc biệt là học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số được nâng lên. Phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững. Đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng với 99% giáo viên đạt chuẩn, tăng 2,6% so với năm 2010 Công tác xã hội hóa giáo dục thực hiện  tốt [10].
b) Hoạt động khoa học công nghệ: trong 5 năm có 228 đề tài, dự án [11] nghiên cứu, ứng dụng trên các lĩnh vực. Một số kết quả nổi bật như: tuyển chọn và phát triển giống lúa lai 2 dòng, xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn; phân vùng cây dược liệu; mô hình sản xuất, nuôi trồng, chế biến tiêu thụ nấm ăn, nấm dược liệu; sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao, giải pháp tiết kiệm điện trong các cơ sở sản xuất tại  khu công nghiệp, xây dựng hầm biogas bằng nhựa Composite…
c) Công tác chăm sóc sức khỏe và phòng, chống dịch bệnh cho nhân dân đạt kết quả tốt. Chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân được nâng lên; bảo hiểm y tế ngày càng được chú trọng, tỷ lệ người dân tham gia ngày càng tăng. Các chương trình quốc gia về y tế được triển khai có hiệu quả; đến năm 2015 tỷ lệ người mắc sốt rét/1.000 dân giảm xuống còn 2,32%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 20%; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đủ liều đạt trên 97%, có 100% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 100% cơ sở điều trị đảm bảo cung ứng đủ thuốc chủ yếu, vật tư tiêu hao trong danh mục quy định của Bộ Y tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ngành y tế được quan tâm đầu tư, nâng cấp.
d) Văn hóa, thông tin, báo chí, PTTH, thể dục thể thao tiếp tục phát triển góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân. Bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy. Đã tổ chức thành công các sự kiện tiêu biểu như: Khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại Đoàn Kết; Hội thảo khoa học di tích lịch sử “Địa điểm đón thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946”,… Đến cuối năm 2015, có 76% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa (tăng 16%) và 55% thôn, làng, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa (tăng 21%); tỷ lệ số hộ được xem truyền hình đạt 98% (tăng 6,5%) và tỷ lệ hộ nghe đài đạt 100% (tăng 2,5%). Hệ thống thiết chế cơ sở văn hóa được quan tâm, các di tích văn hóa, di tích lịch sử được trùng tu tôn tạo [12]. Các hoạt động thể dục thể thao thu hút được nhiều tầng lớp tham gia. Công tác xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao được đẩy mạnh.
e) Kết quả thực hiện chính sách xã hội
- Công tác giảm nghèo và giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực. Đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11,67%, bình quân giảm 3,18%/năm. Nguồn lực cho công tác giảm nghèo được tăng cường thông qua lồng ghép các chương trình, các chính sách. 5 năm đã đào tạo nghề cho 52.755 lao động, trong đó dạy nghề cho người nghèo 25.700 người (có 21.910 lao động là người DTTS nghèo, chiếm 85,3%), có trên 75% người nghèo sau khi học nghề đã có việc làm và tự tạo được việc làm. Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo thực hiện có hiệu quả, doanh số cho vay 348,537 tỷ đồng với 18.250 hộ vay, dư nợ 1.004 tỷ đồng với 62.890 hộ (trong đó đồng bào DTTS là 41.033 hộ chiếm 65,25% và dư nợ 598,981 tỷ đồng, chiếm 59,66%). An sinh xã hội được đảm bảo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng có nhiều cải thiện.
- Số lao động được giải quyết việc làm hàng năm đạt 23.993 người/năm, tăng 4,3%; xuất khẩu lao động 6.029 người; tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị giảm còn 3,1%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% tăng 10%. Chất lượng lao động được nâng cao. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Các chính sách có liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được cụ thể hóa và xác định ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đến năm 2015 có 166 xã, phường, thị trấn được công nhận xã, phường phù hợp với trẻ em, đạt 74,8%.Trong 5 năm qua trợ cấp xã hội cho 3.462 đối tượng là trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi.
- Thực hiện chính sách người có công đã giải quyết cho trên 80.000 đối tượng, tổ chức điều dưỡng cho 38.240 lượt người. Vận động đóng góp Quỹ “đền ơn đáp nghĩa” được 12,47 tỷ đồng, tặng 419 sổ tiết kiệm, xây dựng 1.836 ngôi nhà tình nghĩa. Hỗ trợ xây dựng 814 nhà, sửa chữa 312 nhà ở. Thực hiện tốt công tác quy tập mộ liệt sỹ, quy tập và an táng 423 hài cốt liệt sỹ tại các nghĩa trang liệt sỹ trong tỉnh. Đã vận động các doanh nghiệp tài trợ xây dựng Nghĩa trang liệt sỹ huyện Đức Cơ, huyện Chư Prông, Đền tưởng niệm Liệt sỹ Trung đoàn 95 tại Mang Yang, Tượng đài chiến thắng Đak Pơ.
- Công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường đã được kiểm soát thực hiện đúng theo quy định, quy hoạch. Công tác quản lý nhà nước được tăng cường, nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường từng bước được nâng lên. Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom đạt 93% (tăng 11% so với năm 2010); riêng rác thải ở nông thôn phần lớn các hộ dân tự thu gom và chôn lấp tại chỗ. Đến năm 2015 tỷ lệ dân số nông thôn dùng nước hợp vệ sinh đạt 85% (tăng 11,5% so với năm 2010); tỷ lệ hộ nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 43,5% (tăng 11,2% so với năm 2010). Độ che phủ của rừng (gồm cả cây cao su) đạt 46,1%.
g) Về công tác quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, đối ngoại, phòng chống tham những:
- Quốc phòng, quân sự địa phương tiếp tục được tăng cường và giữ vững; phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng tiềm lực quốc phòng trong khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hằng năm, tổ chức thành công các cuộc huấn luyện diễn tập khu vực phòng thủ tại các địa phương, tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh năm 2014 đạt kết quả tốt. Lực lượng vũ trang địa phương thường xuyên được củng cố, kiện toàn, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; tham gia tích cực, có hiệu quả vào công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, huấn luyện dân quân tự vệ, quân dự bị động viên được chú trọng. Triển khai thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được tăng cường. Việc phân giới, cắm mốc biên giới với Campuchia được chú trọng. Việc quy tập hài cốt liệt sỹ hy sinh qua các thời kỳ chiến tranh trên địa bàn tỉnh và quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Campuchia được triển khai tích cực.
- An ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; triển khai có hiệu quả các giải pháp đảm bảo an ninh chính trị, không để xảy ra các tình huống bị động, bất ngờ. Chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện và đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu lợi dụng địa bàn nước ngoài để phục hồi hoạt động Fulro, lôi kéo, kích động vượt biên và lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá sự nghiệp đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Công tác đảm bảo an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh thông tin được chú trọng. Chủ động phát hiện, giải quyết có hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân, không để phát sinh vụ việc phức tạp, hình thành “điểm nóng”.
- Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được triển khai thực hiện nghiêm túc; việc lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng có nhiều chuyển biến tích cực, được các cấp ủy, chính quyền coi trọng và thực hiện thường xuyên, đồng bộ hơn. Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực. Công tác tự kiểm tra phát hiện hành vi tham nhũng bước đầu được coi trọng. Các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng có nhiều cố gắng trong phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi tham nhũng. Vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng các cấp, báo chí và các tầng lớp nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng được phát huy.
- Công tác đối ngoại được triển khai thường xuyên và đạt được kết quả quan trọng, nhất là đối ngoại nhân dân, góp phần tích cực vào việc bảo vệ an ninh biên giới, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ thương mại, du lịch, đầu tư với một số tỉnh của Lào, Campuchia không ngừng được mở rộng. Chủ động đón tiếp, làm việc với các đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế, các hãng thông tấn báo chí nước ngoài nhằm giới thiệu về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc trên địa bàn tỉnh.
  II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM:
1. Chất lượng tăng trưởng kinh tế một số mặt còn thấp, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, phụ thuộc nhiều vào vốn, khai thác tài nguyên. Nông sản xuất khẩu chưa được chế biến sâu, chất lượng, hiệu quả thấp. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới không đạt được mục tiêu đề ra, huy động đóng góp từ cộng đồng xã hội còn khó khăn, đặc biệt nguồn vốn từ các doanh nghiệp đạt rất thấp. Công tác quản lý đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản chưa chặt chẽ, còn nhiều bất cập; diện tích trồng rừng mới và độ che phủ của rừng chưa đạt mục tiêu đề ra. Một số vùng động lực phát triển chưa vững chắc, chưa tạo được vị thế là vùng động lực. Tốc độ đô thị hóa một số địa phương còn chậm và chất lượng chưa cao; số xã, làng đặc biệt khó khăn vẫn còn nhiều; kết cấu hạ tầng một số nơi ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng còn yếu, nguồn lực đầu tư còn hạn chế.
2. Việc giảm hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, chiếm trên 82%; giảm nghèo chưa bền vững; khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bào kinh và đồng bào dân tộc thiểu số, phân hóa xã hội có xu hướng ngày càng cao. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Việc ứng dụng các đề tài khoa học, chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn hạn chế. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia mới đạt 19,4%. Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân; thái độ phục vụ, vi phạm y đức khắc phục còn chậm. Một số tổ chức, cá nhân chưa được quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, sinh thái.
3. Quy mô doanh nghiệp của tỉnh nhỏ, yếu; tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư chưa đạt yêu cầu. tính chủ động, trách nhiệm, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước tại nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương không cao; việc chấp hành kỷ luật công vụ một số nơi, một số thời điểm còn lơi lỏng.
4. Tai nạn giao thông chưa được kiềm chế; tệ nạn xã hội xảy ra nhiều vụ có tính chất, hậu quả nghiêm trọng. Công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo tình hình và triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp về quốc phòng, an ninh còn một số hạn chế. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh, ngăn chặn trước âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch hiệu quả chưa cao. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, gây mất ổn định.
 
PHẦN THỨ HAI
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI,
 ĐẢM BẢO AN NINH, QUỐC PHÒNG 5 NĂM 2016-2020
I.  Quan điểm phát triển
1. Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, quy hoạch vùng Tây Nguyên, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực.
2. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác với các địa phương trong vùng. Quan tâm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tuyến biên giới của tỉnh. Tập trung nghiên cứu để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, thương mại - dịch vụ, ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ sản xuất, nông nghiệp. Huy động, sử dụng tốt mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
3. Từng bước điều chỉnh tạo sự phát triển hài hòa, hợp lý giữa các vùng trong tỉnh, thu hẹp dần về khoảng cách và mức sống giữa các tầng lớp dân cư. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Chú trọng công tác xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, ổn định xã hội, tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc.
4. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, duy trì quan hệ hữu nghị với các tỉnh láng giềng khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
II. Các nội dung chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020
1. Dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trong tỉnh có tác động, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
2. Các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục huy động mọi nguồn lực, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng của tỉnh. Chú trọng phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ trong tất cả các ngành. Xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới. Phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân, từng bước thu hẹp dần về khoảng cách và mức sống giữa các tầng lớp dân cư. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng, an ninh.  Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; phấn đấu xây dựng Gia Lai là một tỉnh phát triển nhanh, bền vững ở khu vực bắc Tây Nguyên.
2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2016-2020
a) Các chỉ tiêu phát triển kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm (GRDP) đạt 7,5% trở lên; trong đó, ngành nông-lâm-thủy sản tăng 5,57%, ngành công nghiệp-xây dựng tăng 8,49%, ngành dịch vụ tăng 8,75%.
- Tỷ trọng nông-lâm-thủy sản, công nghiệp-xây dựng, dịch vụ là 37,25%, 28,9%,  33,85%.
- GRDP bình quân đầu người đạt 54,8 triệu đồng/người.
- Thu ngân sách nhà nước tăng 9-10%/năm.
- Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 630 triệu USD, tăng bình quân 15,24%/năm.
-  Sản lượng lương thực có hạt trung bình hằng năm đạt 650.200 tấn.
- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 38% (70 xã).
- Diện tích rừng trồng mới hằng năm đạt trên 800 ha.
b) Các chỉ tiêu phát triển văn hóa - xã hội, môi trường:
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,8%/năm; đến năm 2020 giảm còn 2,68% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015).
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,2%.
- Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở bậc trung học cơ sở đạt 91,5%
- Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 40%.
- 100% dân số thành thị và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh
- Tỷ lệ số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%.
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế theo tiêu chí mới 61,3% và đạt 8 bác sĩ/vạn dân.
- Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 90,1% dân số.
            - Độ che phủ rừng 46,6%.
3. Nhiệm vụ, định hướng và giải pháp phát triển
3.1. Về kinh tế
3.1.1. Nông, lâm nghiệp, thủy sản
Phát triển nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế, tiềm năng đất đai và tổ chức lại sản xuất; kết hợp phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến sâu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách hợp lý, nâng cao giá trị kinh tế và chất lượng sản phẩm sau thu hoạch; chú trọng phát triển các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường để tham gia vào chuỗi giá trị; có cơ chế thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển vào nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích và nhân rộng các mô hình để phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn các cánh đồng lớn, đa dạng về hình thức sản xuất phù hợp với điều kiện của từng vùng. Đến năm 2020 duy trì ổn định diện tích cao su, cà phê, hồ tiêu; sử dụng linh hoạt diện tích đất trồng cây hàng năm; phát triển mạnh chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, khép kín theo chuỗi giá trị, nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 23% trong cơ cấu ngành nông nghiệp.
Phấn đấu đến năm 2020 có 70 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Sử dụng có hiệu quả n