Kinh tế - xã hội > Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kin

Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016

16/08/2016
PHẦN THỨ I
A. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2015
Thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ, Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 21/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 09/12/2014 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 105/2014/NQ-HĐND ngày 11/12/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ tám – khóa X về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng năm 2015; Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 05/02/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ; Công văn số 1639/UBND-KTTH ngày 03/5/2015 của UBND tỉnh về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách năm 2015; trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, tác động của việc thực hiện một số chính sách miễn giảm thuế, giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh xuống thấp, nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của HĐND tỉnh, sự phối hợp của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, nhân dân và các doanh nghiệp trong toàn tỉnh, kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, an ninh chính trị được ổn định, cụ thể trên các lĩnh vực sau:
I/ LĨNH VỰC KINH TẾ:
- Tổng sản phẩm năm 2015 (theo giá so sánh năm 1994) ước đạt 12.227 tỷ đồng  đạt 100% kế hoạch, tăng 12,98% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó: nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 7,47%; công nghiệp - xây dựng tăng 14,69%; dịch vụ tăng 16,21% [1].
- Tính theo giá so sánh năm 2010, tổng sản phẩm  năm 2015 ước đạt 33.739,3 tỷ đồng, tăng 7,44% so với cùng kỳ năm 2014([2]); trong đó: nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 6,28%; công nghiệp - xây dựng tăng 8,82%; dịch vụ tăng 7,66%, thuế sản phẩm tăng 6,09%; Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, trong đó nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm 40,04%, công nghiệp - xây dựng chiếm 26,77%, dịch vụ chiếm 33,19%. GDP bình quân đầu người đạt 35 triệu đồng; được thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Nông - lâm nghiệp:
Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản theo giá CĐ 94 ước đạt 9.959 tỷ đồng, tăng 5,45% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất theo giá 2010 đạt 23.449,7 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ; trong đó: nông nghiệp tăng 7,7%, lâm nghiệp tăng 15,5% và thủy sản tăng 4,6%. Tổng diện tích gieo trồng năm 2015 là 511.319 ha, đạt 99,5% kế hoạch, tăng 0,8% so với năm 2014; Tổng sản lượng lương thực đạt 552.460 tấn, bằng 95,8% kế hoạch, giảm 2,5%; Diện tích cây tiêu 14.505 ha, tăng 6,62% kế hoạch và tăng 10,69% cùng kỳ (năng suất 4 tấn/ha, sản lượng đạt 43.601 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ); diện tích cây mía 38.570 ha bằng 101,07% kế hoạch và bằng 101,09% cùng kỳ (năng suất 60,6 tấn/ha, sản lượng đạt 2.304.702 tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ);  diện tích cây cà phê 79.732 ha bằng 100,78% kế hoạch và bằng 100,78% cùng kỳ (thực hiện tái canh 1.591,3 ha cây cà phê già cỗi) sản lượng đạt 201.010 tấn, bằng 100,73% kế hoạch và tăng 3% so với cùng kỳ; diện tích cây cao su 102.640 ha bằng 98,94% kế hoạch và 99,65% cùng kỳ [nguyên nhân người dân chuyển sang trồng cây tiêu] trong năm đã thực hiện tái canh và trồng mới 2.706 ha cây cao su già cỗi) sản lượng đạt 93.564 tấn, bằng 99,43% kế hoạch, tăng14,2% cùng kỳ.
Sản xuất nông, lâm nghiệp năm 2015 đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện tái canh cây cà phê, cao su, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm nước và bước đầu thực hiện cánh đồng mía lớn tại một số huyện phía Đông của tỉnh. Do ảnh hưởng của khô hạn diễn ra gay gắt làm thiệt hại khoảng 12.245 ha cây trồng (riêng vụ đông xuân 2014-2015 thiệt hại 9.845 ha cây trồng, trong đó mất trắng 2.359,3 ha, giảm năng suất từ 30 - 70% là 1.529,43 ha, cà phê giảm năng suất từ 10 - 20% là 5.370 ha, tổng thiệt hại khoảng 141 tỷ đồng); UBND tỉnh đã công bố hạn hán vụ đông xuân xảy ra trên địa bàn tỉnh; kịp thời xuất ngân sách gần 7,5 tỷ đồng để khôi phục sản xuất.
- Ngành chăn nuôi bắt đầu có bước đột phá theo hướng chăn nuôi, chế biến sản phẩm gia súc tập trung; tổng đàn bò tăng nhanh, trong đó dự án chăn nuôi bò thịt, bò sữa của Công ty CP chăn nuôi Gia Lai đã nhập gần 102.000 con bò Úc vào tỉnh và đã xuất khỏi tỉnh hơn 20.000 con; dự án Nhà máy chế biến sữa đang được khẩn trương hoàn thành để sớm đưa vào sản xuất. Các bệnh nguy hiểm trên gia súc, gia cầm đã được kiểm soát, không để dịch phát tán, lây lan; thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y.
- Công tác phòng tránh, ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn, đảm bảo an toàn các hồ chứa nước thủy điện, thủy lợi trong mùa mưa lũ được UBND tỉnh chỉ đạo thường xuyên.
- Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới được Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo triển khai thực hiện; hiện nay các địa phương đang tích cực chỉ đạo các xã xây dựng các công trình cấp thiết từ nguồn vốn TPCP năm 2015 để đảm bảo kịp tiến độ. Hoàn chỉnh danh mục các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất và dịch vụ nông thôn trên địa bàn xã. Dự kiến đến hết năm 2015 có 22 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới (bao gồm 9 xã được công nhận([3]); 08 xã đã hoàn chỉnh hồ sơ trình UBND tỉnh xét công nhận([4]), 05 xã đang hoàn tất hồ sơ đề nghị công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới([5])); 11 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, 55 xã đạt từ 10-14 tiêu chí, 95 xã đạt từ 5-9 tiêu chí, 01 xã đạt dưới 5 tiêu chí.
- Hoạt động lâm nghiệp: Đã giao khoán quản lý và hợp đồng bảo vệ 127.984 ha rừng, đạt 150,8% kế hoạch; chăm sóc 2.627 ha rừng, đạt 100% kế hoạch; trồng rừng 2.418 ha, đạt 227,9% kế hoạch; trồng rừng phòng hộ 815,9 ha, đạt 100,6% kế hoạch; trồng rừng sản xuất 1602,3 ha, đạt 400% kế hoạch. Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thực hiện 1.300 ha, đạt 100% kế hoạch. Khai thác gỗ rừng trồng đạt 120.900 m3, đạt 100,8% kế hoạch. Ước năm 2015 thực hiện thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các cơ sở thủy điện, cung cấp nước là 75.341 triệu đồng, đạt 107,52% kế hoạch và chi cho công tác quản lý bảo vệ rừng 63.750 triệu đồng, đạt 107,03% kế hoạch.
Tình hình vi phạm lâm luật: Tập trung triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2015 theo phương châm “4 tại chỗ”; tiếp tục chỉ đạo rà soát quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ ; tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, kiên quyết xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm. Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 894 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 172 vụ so với cùng kỳ) [6]; đã xử lý 749 vụ (trong đó khởi tố hình sự 22 vụ), tịch thu 1.910 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ, thu nộp ngân sách trên 16 tỷ đồng.
Về thủy sản: Diện tích mặt nước tham gia hoạt động thủy sản là 13.605 ha, đạt 94,4% kế hoạch, bằng 100% so với cùng kỳ, trong đó: Sản lượng thủy sản đánh bắt 2.960 tấn, đạt 70,5% kế hoạch, tăng 0,9% so với cùng kỳ, sản lượng khai thác đạt 2.440 tấn, đạt 195,3% kế hoạch, tăng 7,6% so với cùng kỳ.
2. Công nghiệp
Nhìn chung ngành công nghiệp phát triển ổn định và tăng trưởng khá; giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) ước đạt 9.437 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch và tăng 12,5% so với cùng kỳ; trong đó công nghiệp khai thác ước đạt 150 tỷ đồng, tăng 10,9%; công nghiệp chế biến ước đạt 5.996 tỷ đồng, tăng 20,2%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện 3.291 tỷ đồng, bằng 100,84% cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước đạt 15.185 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ([7]).
Các sản phẩm chủ lực của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, tăng khá so với cùng kỳ; cụ thể: Đường tinh chế 225.000 tấn, đạt 118,05% kế hoạch, tăng 30,4%; tinh bột sắn 100.000 tấn, đạt 119,9% kế hoạch, tăng 5,2%; đá Granít  1.259,12 nghìn m2, đạt 100% kế hoạch, tăng 5,37%.
Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ do gặp khó khăn về thời tiết, nguồn nguyên liệu đầu vào, đầu ra của sản phẩm; đồng thời một số nhà máy đang chuyển giao công nghệ...cụ thể điện sản xuất trên địa bàn ước đạt 5.208,6 triệu Kwh, giảm 15,17% kế hoạch và giảm 11,5% cùng kỳ; phân vi sinh ước đạt 60.200 tấn, giảm 53,69% kế hoạch và giảm 65,64% cùng kỳ; xi măng ước thực hiện 5.050 tấn, giảm 78,96 kế hoạch và giảm 89,57% cùng kỳ.
Khu Công nghiệp Trà Đa đã thu hút 35 nhà đầu tư với 38 dự án, tổng vốn đăng ký 1.682 tỷ đồng; trong đó có 04 dự án FDI có tổng vốn đăng ký 346,7 tỷ đồng). Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.063 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 58,8 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước 17,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1.912 lao động với mức lương bình quân 3,6 triệu đồng/người/tháng. Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh trong khu công nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ đang gặp nhiều khó khăn về tài chính, đồng thời giá cả thị trường hàng nông sản và đá granite giảm mạnh, thị trường đầu ra thu hẹp nên doanh nghiệp thu hẹp sản xuất kinh doanh.
3. Thương mại - xuất nhập khẩu
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội ước đạt 38.000 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch, tăng 14,7% so với cùng kỳ; nhìn chung hàng hoá đáp ứng được nhu cầu mua sắm của nhân dân, nhất là trong dịp Lễ, Tết; các doanh nghiệp tích cực thực hiện Chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “đưa hàng Việt về nông thôn”. Các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về quản lý giá cả các loại hàng hóa tiêu dùng, đảm bảo bình ổn giá cả thị trường; chỉ số giá tiêu dùng ổn định ([8]).
Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 310 triệu USD, đạt 70,45% kế hoạch, giảm 49,87% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do tình hình xuất khẩu không thuận lợi, giá cao su vẫn ở mức thấp; giá cà phê xuất khẩu không ngừng biến động theo chiều hướng giảm; giá thu mua nội địa hiện nay còn ở mức 34.000-35.000đ/kg, giảm hơn 15% so với những tháng đầu vụ. Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của tỉnh như: Cà phê 92.950 tấn/173,44 triệu USD, giảm 63,39% về giá trị; mủ cao su 6.435 tấn/10,18 triệu USD, giảm 62% về giá trị; gỗ tinh chế 15 triệu USD; sắn lát 77.000 tấn/17,376 triệu USD giảm 18,84% về giá trị; hàng khác đạt 94,02 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 140 triệu USD, tăng 3,26 lần so với cùng kỳ (chủ yếu nhập sắn lát, đậu tương, hạt điều, gỗ nguyên liệu từ Campuchia về để tái xuất sang Trung Quốc), tăng mạnh nhất là bò giống, bò thịt do Công ty cổ phần chăn nuôi Gia Lai nhập khẩu từ Úc.
Khu Kinh tế Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh hiện có 54 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó có 14 doanh nghiệp đang hoạt động và 06 dự án đã được cấp phép đầu tư; các doanh nghiệp chủ yếu đăng ký kinh doanh một số lĩnh vực như: Văn phòng đại điện, hàng nông sản, vật liệu xây dựng, đồ gỗ, trạm cân, bãi đậu xe, xây dựng kho bãi. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 23,5 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 97,5 triệu USD; trong năm có 118.000 lượt hành khách xuất, nhập cảnh, giảm 22,5% so với năm 2014; 6.000 lượt phương tiện tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, tăng 144,5% so với năm 2014, tổng doanh thu đạt 107,2 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 2 tỷ đồng, tăng 0,3% so với năm 2014, giải quyết việc làm cho 127 lao động.
Các đơn vị cung ứng mặt hàng chính sách đã tổ chức cấp muối Iốt, bò giống, phân bón và giống cây trồng đạt 100% kế hoạch.
4. Tài chính - Ngân hàng
a) Tài chính:
- Thu ngân sách: Thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 3.050 tỷ đồng, đạt 121,8% dự toán trung ương giao, 113% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt 94,5%, giảm 21%; doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 84,6%, giảm 12,9%; khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 104,4%, giảm 4,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 360%, giảm 1,3%; thu tiền sử dụng đất đạt 148,6%, giảm 34,3%; thu khác đạt 114,3%, giảm 7,8%. Nguyên nhân giảm các khoản thu so với cùng kỳ là do triển khai thực hiện Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế; Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/23/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ làm giảm thu ngân sách năm 2015 của địa phương
- Chi ngân sách: UBND tỉnh đã chủ động trong điều hành ngân sách để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên theo dự toán HĐND tỉnh giao. Chi ngân sách địa phương đạt 8.172 tỷ đồng, bằng 102,6% dự toán Trung ương giao, 99,2% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 2,4% so với cùng kỳ; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95%; chi thường xuyên đạt 102,4%; chi quản lý qua ngân sách đạt 100%; chi các chương trình mục tiêu quốc gia và một số chương trình, dự án, nhiệm vụ do Trung ương bổ sung đạt 98%; đã thực hiện chi trả kịp thời các khoản chi theo chế độ, nhất là đối với tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương, các chế độ, chính sách an sinh xã hội theo quy định. Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước được thực hiện đúng quy định.
b) Ngân hàng:
Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh đã điều hành linh hoạt các công cụ, chính sách tiền tệ để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ. Duy trì thực hiện kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Dự ước đến cuối năm 2015, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn tỉnh đạt 25.800 tỷ đồng, tăng 17% so cuối năm 2014 và đạt 100% kế hoạch; tổng dư nợ cho vay trên địa bàn tỉnh đạt 54.000 tỷ đồng, tăng 25% so cuối năm 2014 và vượt kế hoạch đề ra;  thực hiện tốt công tác xử lý nợ, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ là 0,56% (giảm 0,21% so với cùng kỳ). Hiện trên địa bàn có 26 tổ chức tín dụng với 111 điểm giao dịch; toàn tỉnh có 165 máy ATM; có 1.488 đơn vị hưởng lương ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản với 46.630 thẻ, tăng 161 đơn vị và 6.374  thẻ so với đầu năm.
5. Đầu tư - Xây dựng
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước thực hiện 15.618,7 tỷ đồng, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 18,8% so cùng kỳ. Riêng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tỉnh quản lý là 1.858,7 tỷ đồng, ước khối lượng thực hiện và giải ngân đạt  90% kế hoạch (kế hoạch vốn đầu tư phát triển TW thông báo được kéo dài sang năm 2016). Các công trình, dự án thuộc kế hoạch năm 2015 đã được phân bổ vốn đầu tư kịp thời, đúng quy định. Trong quá trình triển khai thực hiện, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản, chỉ đạo thường xuyên giao ban XDCB, tăng cường kiểm tra, giám sát đầu tư đôn đốc, xử lý những vướng mắc để công trình thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng; tập trung chấn chỉnh việc quyết toán dự án hoàn thành.
Các dự án đầu tư nâng cấp Quốc lộ 14, Quốc lộ 19, Sân bay Pleiku do Bộ Giao thông Vận tải thực hiện được các địa phương phối hợp tốt trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nên hoàn thành trước tiến độ, đưa vào khai thác, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
6. Giao thông vận tải: Các lực lượng vận tải thực hiện tốt kế hoạch vận chuyển phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, nhất là trong dịp lễ, Tết; doanh thu vận tải ước đạt 3.230 tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch, giảm 1,5 % so cùng kỳ, nguyên nhân trong năm 2015 đã thực hiện giảm giá cước vận tải theo đúng quy định. Trong đó: Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 18.386 nghìn tấn, đạt 100% KH, tăng 14%; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.617.440 nghìn tấn/km, đạt 100% KH, tăng 14%. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 15.832 nghìn hành khách, tăng 13,9%; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.317.392 nghìn hành khách/km, tăng 11,4%.
7. Tài nguyên và môi trường: Các huyện, thị xã, thành phố đã hoàn thành công tác lập, phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2015; giao đất 71 hồ sơ với diện tích 1.776,53 ha; trong đó thu hồi và giao đất 29 hồ sơ, diện tích 1.479,04 ha; thu hồi, cho phép chuyển mục đích và giao đất 12 hồ sơ, diện tích 103,39 ha; giao đất 18 hồ sơ, diện tích 184,34 ha; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và giao đất 12 hồ sơ, diện tích 9,76 ha. Cho thuê đất 112 hồ sơ với diện tích 12.539,5 ha.
Cấp 234 sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, 21 Giấy xác nhận hoàn thành các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành; tổ chức đoàn kiểm tra 17 cơ sở và cấp 363 giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường chi tiết và 139 đề án bảo vệ môi trường. Xử phạt vi phạm hành chính 09 tổ chức và 03 cá nhân, thu nộp ngân sách nhà nước 342 triệu đồng. Thẩm định và thông báo phí BVMT đối với nước thải công nghiệp cho 16 đơn vị.
Công tác ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản được tiến hành thường xuyên. Có 67 mỏ còn hiệu lực và được phê duyệt đề án cải tạo, phục hồi môi trường, với số tiền đã nộp hơn 14,6 tỷ đồng.
8. Công tác đăng ký kinh doanh, kinh tế tập thể
Trong năm đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 06 dự án với tổng số vốn đăng ký 2.904 tỷ đồng; điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 04 dự án; sau khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 05 dự án; điều chỉnh 03 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cấp đăng ký thành lập mới cho 319 doanh nghiệp và 358 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đăng ký 972 tỷ đồng; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 03 doanh nghiệp (năm 2014 có 316 doanh nghiệp thành lập mới) nhưng vốn đăng ký giảm 68% (năm 2014 vốn đăng ký 3.104 tỷ đồng), có 55 doanh nghiệp và 36 đơn vị trực thuộc giải thể, tăng 21% so với cùng kỳ (năm 2014 có 75 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc giải thể); 54 doanh nghiệp và 05 chi nhánh đăng ký tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng 45% so với cùng kỳ, (năm 2014 có 24 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc tạm ngưng hoạt động sản xuất kinh doanh).
Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 118 hợp tác xã với 23.856 xã viên; giải quyết việc làm cho 6.225 lao động; tổng vốn điều lệ 110 tỷ đồng, doanh thu 77,5 tỷ đồng. Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì hoạt động, tạo thêm việc làm và thu nhập nhưng nhìn chung, hoạt động của các hợp tác xã còn khó khăn về vốn, trụ sở làm việc, cán bộ quản lý còn yếu về trình độ, hoạt động còn lúng túng, nhiều hợp tác xã chưa có giải pháp hoạt động nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp.
Công tác sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được triển khai thực hiện theo Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị và Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đã thành lập Ban chỉ đạo sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thẩm định đề án; xây dựng đề án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của tỉnh và đôn đốc các DNNN hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục để triển khai công tác cổ phần hóa đúng tiến độ. Dự kiến năm 2015, hoàn thành việc cổ phần hóa đối với công ty TNHH công trình đô thị và Công ty TNHH MTV cấp nước Gia Lai và xác định giá trị doanh nghiệp đối với 03 công ty([9]).
- Theo công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Gia Lai năm 2014 đứng thứ 48 toàn quốc, đứng thứ 3 khu vực Tây Nguyên, thuộc nhóm trung bình. Để tăng cường kêu gọi đầu tư, tỉnh đã điều chỉnh lại quy định về chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư cho phù hợp với tình hình mới, rà soát lại danh mục các dự án kêu gọi đầu tư.
II. Về văn hoá – xã hội
1. Giáo dục- Đào tạo
Hoạt động dạy và học đảm bảo theo kế hoạch, các nhiệm vụ trọng tâm được toàn ngành thực hiện nghiêm túc, tích cực. Cơ sở trường, lớp, thiết bị dạy và học tiếp tục được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn; năm học 2015-2016 toàn tỉnh có 1.068 trường, trung tâm (trong đó có 37 cơ sở giáo dục ngoài công lập) với 373.559 học sinh mầm non và phổ thông, 9.803 học viên khối giáo dục thường xuyên, 4.935 học sinh-sinh viên khối Cao đẳng, Trung cấp chính quy; trong đó có 17 trường phổ thông dân tộc nội trú với 3.527 học sinh; 25.284 cán bộ quản lý, giáo viên, các cấp học với 99,98% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. 15 cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh dạy nghề cho 13.642 học sinh (trong đó 5.321 học sinh thuộc đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn). Đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 159 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 19,4%; 221/222 xã, phường, thị trấn và 17/17 huyện, thị xã, thành phố được công nhận phổ cập giáo dục mầm non, 98% trường tiểu học, THCS được trang bị thiết bị dạy học ngoại ngữ chuyên dụng.
Chất lượng giáo dục các cấp phổ thông có chuyển biến; tỷ lệ học sinh THCS xếp loại yếu kém tiếp tục giảm, (cấp THCS còn 2,4%, cấp THPT còn 2,63%, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm). Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2015 diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT của tỉnh đạt 74,52%, (giảm hơn 20% so với năm học trước). Công tác kiểm tra, chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm và tình trạng lạm thu trong các cơ sở giáo dục được tăng cường, đã kiểm tra và xử lý 01 cơ sở giáo dục lạm thu phí không đúng quy định.
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học- xóa mù chữ; phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy trì; tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99,8%. Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đúng tiến độ mục tiêu đề ra; chuẩn bị thủ tục để Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận tỉnh Gia Lai đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.
2. Y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình
Tình hình dịch bệnh ổn định, các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng gây dịch đã được khống chế tốt, không để bùng phát thành dịch. Tuy nhiên còn một số bệnh truyền nhiễm có số mắc và tử vong tăng so với cùng kỳ 2014, đặc biệt sốt xuất huyết tăng 6,7 lần với 1.077 người mắc, tử vong 01 trường hợp (cùng kỳ năm 2014 là 161 người, không có tử vong); số mắc/chết bệnh dại là 3 ca, bệnh bạch hầu là 5 ca.
Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai tốt; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ liều đạt 95,7% KH (năm 2014 đạt 90% KH); tiến hành thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm với 3.369 cơ sở, tỷ lệ cơ sở đạt tiêu chuẩn 75,4%; trong năm đã xảy ra 07 vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh làm 397 người bị ngộ độc, 01 người tử vong (cùng kỳ năm 2014 có 03 vụ, 138 người bị ngộ độc, 01 tử vong).
Các cơ sở y tế đã khám, chữa bệnh cho 1.664.203 lượt người, trong đó điều trị nội trú 157.719 lượt. Hầu hết các cơ sở điều trị đã đảm bảo đủ thuốc chủ yếu, vật tư tiêu hao theo danh mục quy định của Bộ Y tế. Công tác đấu thầu thuốc năm 2015 cơ bản hoàn tất với số mặt hàng thuốc trúng thầu là 718/850 (đạt 84,47%). Tiến hành kiểm nghiệm 1.000 mẫu thuốc, có 11 mẫu thuốc không đạt chất lượng.
Các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện được đầu tư, nâng cấp về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế nhằm nâng cao chất lượng khám và điều trị. Năm 2015, toàn tỉnh có 24,4 giường bệnh viện/vạn dân; 7,18 bác sĩ/vạn dân; 2.116 nhân viên y tế thôn bản; 80% trạm y tế xã có bác sỹ; 100% số xã có nữ hộ sinh; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 20%, giảm 3% so với năm 2014; tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt Tiêu chí quốc quốc gia về y tế theo chuẩn mới là 52 xã, chiếm 31,1%.
3. Văn hoá - Thể thao – Du lịch
Các hoạt động văn hóa văn nghệ đã diễn ra phong phú và sôi nổi, đã tổ chức thành công các ngày lễ lớn trong năm 2015 và các hoạt động chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 40 năm ngày giải phóng tỉnh Gia Lai (17/3/1975-17/3/2015), chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XV tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
Tổ chức Lễ công bố Sử thi của người Bahnar là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho 4 huyện phía Đông của tỉnh. Tiếp tục hoàn thiện, củng cố hệ thống thiết chế văn hóa. Tăng cường kiểm tra các hoạt động quảng cáo, karaoke, kinh doanh băng đĩa, văn hóa phẩm,... Ban quản lý Quảng trường Đại đoàn kết, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, Nhà hát ca múa nhạc tổng hợp Đam San, Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh và Du lịch, Thư viện tỉnh đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phục vụ.
Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi nổi ở nhiều địa phương, đơn vị; tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động thể dục thể thao, đáp ứng nhu cầu tập luyện của nhân dân; tổ chức gần 60 giải thể thao cơ sở; đội tuyển tham gia các giải toàn quốc, khu vực và các tỉnh bạn, trong đó đứng thứ 3 toàn đoàn tại Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc khu vực II, đạt chức vô địch giải bóng đá trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cúp Tôn Hoa Sen; đạt 4 HCB, 6 HCĐ tại giải thể thao người khuyết tật toàn quốc năm 2015.
Hoạt động quản lý du lịch bước đầu có đổi mới, Ngành du lịch đã tổ chức một số hội nghị về du lịch nhằm hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện văn bản luật, trao đổi, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động du lịch; một số đơn vị đã quan tâm khảo sát du lịch, tổ chức hội thảo tại tỉnh. Tổ chức Hội nghị cơ sở lưu trú du lịch có hơn 57 đơn vị tham gia và Hội thi nghiệp vụ du lịch tỉnh Gia Lai năm 2015.
Tổng lượt khách đến năm 2015 ước đạt 218.400 lượt tương đương so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 7.300 lượt, giảm 15% so với cùng kỳ, khách nội địa ước đạt  211.100 lượt tương đương so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch ước đạt 174,9 tỷ đồng, giảm 7,3% so với cùng kỳ; nộp ngân sách nhà nước ước đạt 16,4 tỷ đồng, giảm 8% so với cùng kỳ.
4. Thông tin - truyền thông – Phát thanh truyền hình
Đã ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; quy chế quản lý, vận hành và khai thác hệ thống một cửa, một cửa liên thông trong các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh. Việc ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính đã được các địa phương, đơn vị chú trọng, đầu tư([10]).
Chỉ đạo các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng lưới thông tin trong dịp lễ, Tết; mạng lưới bưu chính, viễn thông, số thuê bao điện thoại tiếp tục phát triển ([11]).
Hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình đã tập trung tuyên truyền việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động chính trị, các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn ([12]). Duy trì họp báo định kỳ của UBND tỉnh, kịp thời phản hồi các thông tin mà cơ quan báo chí phản ánh. Toàn tỉnh hiện có 04 cơ quan báo chí địa phương và 21 cơ quan có văn phòng đại diện hoặc có phóng viên thường trú.
Tổ chức thành công Liên hoan Phát thanh-Truyền hình tỉnh Gia Lai lần thứ V năm 2015. Các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới năm 2015 đã đầu tư hệ thống phát thanh FM cho 06 xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
5. Lao động - Thương binh và Xã hội
Tỉnh đã quan tâm và chăm lo đến các gia đình chính sách, người có công, đối tượng xã hội cộng đồng([13]); toàn tỉnh có 24/24 Mẹ Việt Nam anh hùng được nhận phụng dưỡng, chăm sóc. Tổ chức trọng thể Lễ đón, truy điệu và an táng 30 liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia về an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ huyện Đức Cơ; (tổng số mộ liệt sỹ được quy tập vào Nghĩa trang liệt sỹ là 53 mộ liệt sỹ). Vận động đóng góp quỹ Đền ơn đáp nghĩa trên 3,3 tỷ đồng đạt 150,6% KH. Tặng 51 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho đối tượng NCC đạt 102%KH. Xây dựng 29 nhà tình nghĩa tặng cho gia đình NCC có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở.
Thực hiện đào tạo hệ trung cấp nghề 226 người, đạt 113% KH; sơ cấp nghề 1.332 người, đạt 95% KH, đào tạo nghề cho 5.301 lao động nông thôn, đạt 101,5 % KH; đào tạo nghề cho 20 lao động nông thôn là người khuyết tật, đạt 6,7% kế hoạch.
Giải quyết việc làm cho 24.670 lao động, đạt 100,69% kế hoạch, trong đó xuất khẩu lao động 1.314 lao động, đạt 101% kế hoạch; tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động cho 7.461 lượt người đạt 124,35%KH; có 486 doanh nghiệp đăng ký tuyển 2.471 lao động, giới thiệu việc làm cho 950 lao động. Tiếp nhận 2.847 hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong năm đã xảy ra 13 vụ tai nạn lao động, làm chết 6 người.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo được triển khai thực hiện tốt, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh; ước tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11,67%, (giảm 2,29%); số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn 37.556 hộ. Thực hiện chương trình an sinh xã hội của Ban chỉ đạo Tây Nguyên đã tổ chức cấp phát 1.000 con bò giống cho 1.000 hộ nghèo của 17 huyện, thị xã, thành phố. Xây dựng 100 căn nhà từ nguồn tài trợ của Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam và 200 căn nhà từ nguồn tài trợ của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Trong năm đã cấp 106.427 thẻ BHYT cho người nghèo; 350.696 thẻ BHYT cho đồng bào DTTS vùng II, III; 4.199 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo; 23.619 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo vừa mới thoát nghèo (theo QĐ số 705 của Chính phủ); 7.252 thẻ BHYT cho hộ người kinh vùng III; 3.720 thẻ BHYT cho Cựu chiến binh; 176.302 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi; tính đến cuối năm, tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 75,3%, (tăng 3,4%); thực hiện chi trả BHXH, BHYT ước trên 1.642 tỷ đồng (tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2014); thu BHXH, BHYT, BHTN 1.719,5 tỷ đồng (tăng 0,1% KH giao và tăng 3,4% so với năm 2014. Thực hiện xét duyệt mới các chế độ BHXH cho 24.304 người (tăng 7,5% so với năm 2014); cấp 6.610 sổ BHXH. Số người tham gia BHXH là 82.530 lao động (chiếm tỷ lệ 10,02%), đạt 98,3% KH, giảm 0,8% so với năm 2014; số người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp 68.395 lao động (chiếm tỷ lệ 8,3%), tăng  6,25% so với năm 2014.
Công tác bảo trợ xã hội được quan tâm; tổng số đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp tại cộng đồng năm 2015 là 23.295 người, đạt 97,1% KH; tổng số đối tượng hiện đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở BTXH là 639 đối tượng, đạt 116,2% KH. Cấp phát 1.204 tấn gạo cứu đói của Chính phủ trong dịp Tết Nguyên đán năm 2015. Phân bổ 5,717 tỷ đồng thực hiện chi trả học bổng và hỗ trợ mua sắm phương tiện, đồ dùng học tập cho người khuyết tật.
Số trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ dưới nhiều hình thức là 22.209 lượt, đạt 130,64% KH; trẻ em khuyết tật được phẫu thuật phục hồi chức năng là 155 em, đạt 103% KH. 100% trẻ em dưới 6 tuổi được hưởng chính sách khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế công lập theo quy định của Luật Bảo hiểm Y tế. Phối hợp với các Bệnh viện khám sàng lọc, phẫu thuật chỉnh hình, dị tật vận động, bệnh tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch, các bệnh về mắt cho 178 đối tượng bệnh nhân nghèo, trẻ em.
6. Khoa học và Công nghệ
Trong năm đã rà soát lại các nhiệm vụ khoa học-công nghệ, tập trung ưu tiên thực hiện việc ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Quản lý, theo dõi 39 nhiệm vụ, trong đó có 31 nhiệm vụ từ những năm trước chuyển sang; 08 nhiệm vụ thực hiện mới năm 2015. Tiến hành kiểm tra nội dung và tiến độ định kỳ đợt I đối với 11 đề tài, dự án đang trong quá trình triển khai thực hiện. Tổ chức nghiệm thu 19 nhiệm vụ cấp tỉnh, tổ chức bàn giao các kết quả nghiên cứu của 19 nhiệm vụ.
Kiểm tra 29 cơ sở về đo lường chất lượng nhãn hàng hoá đối với vàng trang sức và mỹ nghệ; chất lượng, ghi nhãn hàng hóa tại 86 cơ sở kinh doanh các mặt hàng nhóm 2; chất lượng thép làm cốt bê tông tại 04 cơ sở kinh doanh các sản vật liệu xây dựng; chất lượng xăng dầu tại 02 cơ sở. Thực hiện kiểm tra, hướng dẫn xây dựng và áp dụng ISO hành chính công tại 27 đơn vị.
Hướng dẫn cho 15 tổ chức, các nhân đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, trong năm 2015 đã có 26 đơn được đăng ký và 25 văn bằng (nhãn hàng hóa) được bảo hộ. Cấp 15 giấy phép tiến hành công việc bức xạ cho các đơn vị và cấp 06 chứng chỉ nhân viên bức xạ. Thực hiện kiểm định đối với 5.545 phương tiện đo lường các loại. Thử nghiệm phân tích 1.175 mẫu sản phẩm các loại.
 7. Công tác dân tộc
Thực hiện tốt các chính sách dân tộc; phát huy vai trò tích cực của các già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số;
Chương trình 135 (thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững) đã bố trí 160,885 tỷ đồng, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất cho 77 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới và 213 làng đặc biệt khó khăn, đầu tư xây dựng 311 công trình (85 công trình chuyển tiếp, 226 công trình khởi công mới); ước thực hiện 126,786 tỷ đồng đạt 99,7%KH. Hỗ trợ phát triển sản xuất cho 30.587 hộ nghèo, đã cấp 1.003 con bò giống, 12,962 tấn giống ngô lai, 67,84 tấn giống lúa thuần, kinh phí ước thực hiện 33,75 tỷ đồng đạt 100% KH.
Chương trình ĐCĐC đã bố trí 22,106 tỷ đồng, trong đó vốn ĐTPT là 20 tỷ đồng, vốn sự nghiệp là 2,106 tỷ đồng, tập trung bố trí trả nợ dự án ĐCĐC tập trung buôn H’Lang, xã Chư Rcăm, huyện Krông Pa và khởi công mới 04 dự án; hiện các chủ đầu tư đang triển khai thực hiện ước đạt 89% KH.
Năm 2015 có 1.257 người uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh được hưởng Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg với kinh phí 1.825 triệu đồng (gồm kinh phí năm 2014 chuyển sang), ước thực hiện năm 2015 đạt 100% kế hoạch.
Chính sách hỗ trợ theo Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Năm 2015 tỉnh bố trí 22.849,9 triệu đồng (chưa kể vốn vay từ NH CSXH 40.215 triệu đồng) để giải quyết dứt điểm cho 1.338 hộ thiếu đất sản xuất với diện tích 813,34 ha, giải quyết chuyển đổi chăn nuôi cho 1.343 hộ không còn quỹ đất và hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 1.341 hộ.
8. Công tác cải cách hành chính
Theo công bố của Bộ Nội vụ, chỉ số cải cách hành chính năm 2014 của tỉnh Gia Lai đạt 77,76 điểm/100 điểm, xếp thứ 51/63 các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tăng 9 bậc so với năm 2013.
UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai xác định Chỉ số cải cách hành chính năm 2014; chỉ đạo xây dựng Quy định về việc thực hiện một cửa, một cửa liên thông ở cơ quan hành chính các cấp của tỉnh theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo, đôn đốc các sở, ngành của tỉnh rà soát, xây dựng quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông trên các lĩnh vực: Đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư, đất đai, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, tư pháp để tổ chức thực hiện thống nhất, có hiệu quả; đã ban hành 05 Quyết định công bố 73 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền.
 
ĐÁNH GIÁ CHUNG:
 
Trong năm 2015 mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn tiếp tục chuyển biến tích cực; sản xuất nông nghiệp đã tập trung đầu tư theo hướng phát triển bền vững, áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật tiên tiến, gắn kết với chế biến và tiêu thụ; không để lây lan dịch bệnh trên gia súc, gia cầm. Giá trị sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tổng nguồn vốn huy động và cho vay ngân hàng tăng so với cùng kỳ; thu ngân sách trên địa bàn tuy chịu ảnh hưởng tình hình khó khăn của doanh nghiệp và việc thực hiện một số chính sách thuế mới nhưng vẫn vượt dự toán; đã thực hiện quản lý, điều hành ngân sách đúng quy định; giá cả thị trường ổn định; các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA, vốn giao thông nông thôn được phân bổ kịp thời; công tác chỉnh trang đô thị được quan tâm. Công tác cổ phần hóa, sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước cơ bản đạt kế hoạch đề ra. Công tác chuẩn bị kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch đầu tư phát triển năm 2016, giai đoạn 2016-2020 và dự toán ngân sách nhà nước được triển khai đúng quy định. Việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn tỉnh lần thứ XV được thực hiện đúng quy định; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế tiếp tục có bước phát triển; quan tâm và chăm lo đến các gia đình chính sách, người có công, đối tượng xã hội cộng đồng; đã tổ chức các ngày lễ lớn, các ngày kỷ niệm của một số ngành được tổ chức chu đáo, thiết thực, tiết kiệm. Các vấn đề bức xúc xã hội, đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm giải quyết; công tác chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức được quan tâm.
Tuy nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn còn gặp nhiều khó khăn; khô hạn xảy ra trên diện rộng trong vụ đông xuân, gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đời sống của người dân. Giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực giảm, kim ngạch xuất khẩu không đạt kế hoạch đề ra; giải ngân các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm; năng lực một số chủ đầu tư, ban quản lý, nhà thầu còn yếu; vẫn còn một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản khởi công mới năm 2015 chậm hoàn thành các thủ tục. Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động nhiều; cải cách thủ tục hành chính chưa đạt được kết quả như mong muốn, công tác triển khai thực hiện Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn chậm; tại nạn giao thông tăng cả 3 tiêu chí; tự tử, chết đuối, cháy xảy ra nhiều.
 

III. Ước thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết HĐND tỉnh như sau:
Stt Chỉ tiêu Đơn vị tính Kế hoạch năm 2015 Ước TH năm 2015 Đạt, không đạt so với Nghị quyết
I CHỈ TIÊU KINH TẾ        
1 Tốc độ tăng tổng GDP 2015    (giá SS 1994) % 12,98 12,98 Đạt
  Ngành nông lâm nghiệp - Thủy sản %                6,87                  7,47  
  Ngành công nghiệp - Xây dựng %              15,16                14,69  
  Ngành dịch vụ %              16,21                16,21  
2 Tốc độ tăng tổng GRDP 2015 (SS 2010) %   7,44  
- Ngành nông lâm nghiệp - Thủy sản %   6,28  
- Ngành công nghiệp - Xây dựng %   8,82  
- Ngành dịch vụ %   7,66  
- Thuế sản phẩm %   6,09  
3 Cơ cấu kinh tế (Tổng VA) tính theo phương pháp Tổng Cục thống kế công bố %   100 Phù hợp
- Ngành nông lâm nghiệp - Thủy sản %   40,04  
- Ngành công nghiệp - Xây dựng %   26,77  
- Ngành dịch vụ %   33,19  
4 Số xã đạt chuẩn nông thôn mới Tiêu chí 22 22 Đạt
5 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ Tỷ đồng 38.000 38.000 Đạt
6 Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 440 310 Không đạt
7 Tổng thu ngân sách trên địa bàn Tỷ đồng 2.700 3.050 Vượt
8 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ đồng 15.500 15.618,7 Vượt
II CHỈ TIÊU VỀ XÃ HỘI        
1 Tốc độ tăng từ nhiên dân số % 1,28 1,28 Đạt
2 Tỷ lệ hộ nghèo % 11,67 11,67 Đạt
3 Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo % 85 85 Đạt
4 Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia % 20 19,4 Xấp xỉ đạt
5 Số giường bệnh/vạn dân % 24,4 24,4 Đạt
6 Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ % 80 80 Đạt
7 Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt Tiêu chí quốc gia về y tế % 31,1 31,1 Đạt
8 Số bác sĩ/vạn dân Bác sĩ 7,18 7,18 Đạt
9 Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế % 74,49 75,3 Vượt
III CHỈ TIÊU VỀ MÔI TRƯỜNG        
1 Tỷ lệ che phủ của rừng (kể cả cây cao su) (1) % 53,1 46,1 Không đạt
 
Như vậy trong 18 chỉ tiêu, có 16 chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội do Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra cho năm 2015 đạt và vượt kế hoạch. Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu và chỉ tiêu tỷ lệ che phủ của rừng không đạt.
(1) Về tỷ  lệ che phủ rừng: Đến năm 2015, tổng diện tích có rừng là 716.252 ha, tương đương tỷ lệ che phủ rừng tỉnh Gia Lai đạt 46,1%, không đạt so với kế hoạch là 53,1% (tức giảm 105.872 ha) gồm 5 lý do sau: Sai số do công tác điều tra rừng là 76.084,82 ha + lấn chiếm đất rừng để lấy đất canh tác, sản xuất nông nghiệp là 23.185,08 ha + chuyển mục đích sử dụng rừng xây dựng công trình 4.069,2 ha + chuyển rừng nghèo sang trồng cao su đã khai hoang chưa trồng lại rừng 2.095 ha + do cháy rừng 438,2 ha.

PHẦN THỨ II
 KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2016
 
Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội cả nước và của tỉnh còn khó khăn, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 được xây dựng với nội dung sau:
I. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hợp lý và bền vững. Thực hiện tốt các mục tiêu an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Củng cố quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy quản lý nhà nước. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng.
II. Các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2016
1. Các chỉ tiêu kinh tế
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) đạt 7,5%.
+ Ngành nông lâm nghiệp - Thủy sản tăng 5,95%.
+ Ngành công nghiệp - Xây dựng tăng 9%.
+ Ngành dịch vụ tăng 8,%.
+ Thuế sản phẩm tăng 6,1%
- Cơ cấu kinh tế
+ Ngành nông lâm nghiệp - Thủy sản: 39,39%.
+ Ngành công nghiệp - Xây dựng: 27,59%.
+ Ngành dịch vụ: 33,02%.
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - Thủy sản (giá SS 2010): 24.845 tỷ đồng, tăng 5,95% so với năm 2015.
- Số xã đạt chuẩn nông thôn mới: 09 xã.
- Giá trị sản xuất công nghiệp (giá SS 2010): 16.657 tỷ đồng, tăng 9,7% so với năm 2015; chỉ số IIP tăng 9,47%.
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ: 44.200 tỷ đồng, tăng 16%.
2. Các chỉ tiêu văn hóa xã hội
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,25%.
- Số lao động được tạo việc làm mới: 24.500 người.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 43%.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10,25%.
+ Mức giảm tỷ lệ nghèo: 1,42%
- Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo: 86%.
- Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở bậc THCS: 79,5%.
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: 22%.
- Số giường bệnh/vạn dân: 24,4.
- Số bác sĩ/vạn dân: 7,25.
- Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ: 83,3%.
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt Tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2016-2020: 35,6%
- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế: 76,7%.
3. Các chỉ tiêu môi trường
- Tỷ lệ che phủ của rừng (kể cả cây cao su): 46,2%.
- Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: 89%.
-         Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch: 99%.
-         Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom: 93%.
III. Một số cân đối lớn
1. Lao động việc làm
- Dự kiến lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên dự kiến là 858,59 nghìn người.
- Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông lâm, thủy sản dự kiến là 68,8%; công nghiệp xây dựng là 9,2%; dịch vụ 22%.
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị: 3,05%.
2. Cân đối thu, chi ngân sách
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn: 3.415 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách địa phương: 8.580,5 tỷ đồng.
3. Cân đối vốn đầu tư phát triển
- Khả năng huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2016 là 17.050 tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2015.
4. Cân đối xuất nhập khẩu
- Kim ngạch xuất khẩu: 400 triệu USD
- Kim ngạch nhập khẩu: 145 triệu USD
5. Cân đối về lương thực
- Dự kiến diện tích lúa gieo trồng năm 2016 là 71.950 ha; sản lượng lương thực đạt 566.660 tấn.
IV. Nhiệm vụ, định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực     
1. Về phát triển kinh tế
a) Hoàn chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020 theo các quy định của Luật Đầu tư công, Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 - 2020, Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 5 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,5%. Xây dựng Chương trình hành động triển khai thực hiện phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 theo Nghị quyết của Chính phủ; trong đó xác định rõ mục tiêu, trách nhiệm, nhiệm vụ và tiến độ thực hiện. Tập trung rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch ngành, sản phẩm.
b) Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
c) Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng các nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng nông thôn mới thật sự hiệu quả và gắn với phát triển kinh tế bền vững. Tập trung bảo đảm cấp nước phục vụ dân sinh và sản xuất, hạn chế thiệt hại do tác động của hiện tượng En ni nô, đồng thời theo dõi chặt chẽ tình hình khô hạn, thiếu hụt nguồn nước trên các suối, ao, hồ, đập, hướng dẫn khuyến cáo các địa phương sử dụng giống cây trồng chịu hạn, chuyển đổi giống cây trồng phù hợp. Thực hiện các giải pháp tăng cường khả năng điều tiết các nguồn nước, khả năng tích nước cho mùa khô, sử dụng nước tiết kiệm. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn gắn với phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiệu quả và an toàn thực phẩm. Từng bước hình thành các cánh đồng lớn, sản xuất kinh doanh theo chuổi giá trị, nâng cao giá trị sản phẩm thu hoạch trên một đơn vị diện tích. Phấn đấu GTXS ngành nông, lâm thủy sản đạt 24.845 tỷ đồng.
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; phấn đấu năm 2016 có thêm 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, chính sách giao đất, giao rừng, giao khoán quản lý bảo vệ rừng. Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm Luật Quản lý bảo vệ rừng; tăng cường kiểm tra hoạt động khai thác, chế biến gỗ; tiếp tục nâng cao tỷ lệ che phủ rừng.
Triển khai kế hoạch chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Tập trung phát triển các ngành, các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh; phát triển một số ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và công nghiệp phụ trợ; ưu tiên phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn; phát triển vùng sản xuất nguyên liệu để cung cấp cho các nhà máy hoạt động ổn định; đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản (theo hướng tinh, sâu), công nghiệp sinh học, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất; hoàn thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu, cụm công nghiệp. Phấn đấu GTXS ngành công nghiệp đạt 16.657 tỷ đồng.
Phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, công nghệ thông tin. Thực hiện đồng bộ các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu. Mở rộng thị trường, khai thác tốt những thị trường hiện có và những thị trường tiềm năng để xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng và giá trị kim ngạch cao. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 44.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 400 triệu USD.
Trước mắt, tăng cường các biện pháp đảm bảo nguồn hàng, cung ứng hàng hóa để đáp ứng đủ nhu cầu trước, trong và sau Tết Nguyên đán, bảo đảm bình ổn thị trường và giá cả, không để thiếu hàng, sốt giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu.
d) Đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, trọng tâm là tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, trong đó tập trung tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế hợp tác, doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnh kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã, dần hình thành một số hợp tác xã kiểu mới hoạt động kinh doanh hiệu quả; bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, áp dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
đ) Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ các giải pháp, mục tiêu được nêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp quốc gia trong hai năm 2015 – 2016. Triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đầu tư (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt là trong các lĩnh vực: thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội theo hướng tạo thuận lợi ở mức cao nhất cho người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh thực hiện công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình đã được cấp thẩm quyền phê duyệt; công tác phối hợp, quản lý doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
f) Để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ tài chính - NSNN địa phương năm 2016, cần tập trung tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung và nhiệm vụ thu NSNN theo Nghị quyết của Quốc Hội, của Hội đồng Nhân dân tỉnh; tăng cường quản lý thu hồi các khoản nợ ngân sách, nợ đọng thuế; thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận thuế. Phấn đấu thu ngân sách đạt 3.360 tỷ đồng.
Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công và không ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi NSĐP khi chưa có nguồn đảm bảo. Rà soát chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, chỉ thực hiện chuyển nguồn đối với một số khoản chi thực sự cần thiết theo đúng quy định của trung ương quy định. Tăng cường công tác kiểm soát chi qua Kho Bạc nhà nước; kiên quyết không thực hiện chuyển nguồn đối với các nhiệm vụ do chủ quan của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện chậm. Tiếp tục triển khai cơ chế hoạt động tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ. Tăng cường công tác quản lý giá cả các mặt hàng do Nhà nước kiểm soát như: xăng, dầu, khí, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, ...Thuc đẩy việc chuyển một số loại phí, lệ phí sang giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường; giá cả các sản phẩm, dịch vụ được nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch tiếp tục được rà soát theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, phù hợp với mặt bằng giá cả thị trường, thu hút các thành phần kinh tế khác cùng tham gia cung ứng dịch vụ công.
g) Thực hiện đầy đủ các chính sách tiền tệ, tập trung xử lý nợ xấu. Ngân hàng tiếp tục đồng hành tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn vốn huy động qua ngân hàng trên địa bàn; tăng dư nợ tín dụng phù hợp với việc nâng cao chất lượng tín dụng. Chủ động thực hiện các giải pháp quản lý thị trường ngoại tệ, thị trường vàng hiệu quả. Phấn đấu dư nợ cho vay tăng trưởng 15%, huy động vốn tăng 15,11%.
h) Huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị. Tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư, tập trung đổi mới quy trình cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý các nguồn vốn đầu tư ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA… theo Luật Đầu tư công. Thực hiện  đầu tư một số dự án theo hình thức PPP (đối tác công-tư). Phấn đấu tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt 17.050 tỷ đồng. Tập trung lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực, uy tín; khắc phục tình trạng yếu kém về năng lực tài chính, thi công, yếu kém về công nghệ, kéo dài thời gian thi công; khắc phục nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục tăng cường các biện pháp vận động tài trợ vốn ODA, thúc đẩy giải ngân vốn ODA. Tăng cường công tác quản lý XDCB theo Luật Xây dựng…và các văn bản hiện hành; kiểm tra, thanh tra quản lý thống nhất bảo đảm các dự án đầu tư phải đúng theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tăng cường công tác quyết toán vốn đầu tư theo đúng quy định, kiểm tra các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình ở các huyện, thị xã, thành phố theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
2. Về văn hóa, xã hội
a) Tiếp tục thực hiện đúng lộ trình của quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh theo Quyết định số 877/QĐ-UBND ngày 26/12/2011, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.
b) Triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển giáo dục và chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từng bước phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm hơn nữa đến chất lượng giáo dục – đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng. Tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia. Chú trọng công tác đào tạo nghề. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
c) Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm quá tải tại bệnh viện. Chủ động triển khai công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Triển khai có hiệu quả các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Tăng tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, từng bước thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực đối với các lĩnh vực y tế. Tăng cường quản lý nhà nước về sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, cung ứng dược phẩm.
d) Tăng cường công tác quản lý, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nhất là dân tộc truyền thống. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá, thể dục thể thao ở các cấp. Xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển văn hóa gắn với phát triển du lịch. Tích cực đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội nhất là ma túy, mại dâm. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực đối với lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao. Phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao. Tăng cường quản lý các lễ hội, hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao, internet. Tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, truyền thông, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả về sử dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành, sớm triển khai một số dịch vụ công trực tuyến.
đ) Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động, chú trọng tạo việc làm ổn định, cải thiện môi trường và điều kiện lao động. Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động. Tiếp tục thực hiện Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, thực hiện các biện pháp nâng cao tỷ lệ và chất lượng lao động qua đào tạo gắn với giải quyết việc làm. Phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 10,25% (theo chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011-2015); tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 76,7%.
e) Thực hiện tốt các chính sách tôn giáo, dân tộc, bình đẳng giới; triển khai thực hiện đúng cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất, đời sống đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Chú trọng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, phát triển thanh niên. Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là trong việc giải tỏa đền bù thu hồi đất và những tiêu cực trong y tế, giáo dục, đào tạo, tai nạn giao thông; bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tăng cường phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
f) Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học - công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, ưu tiên phát triển công nghệ cao. Đẩy mạnh triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện cơ chế tự chủ; khuyến khích huy động vốn đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ. Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, phát triển tài sản trí tuệ; hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Từng bước hoàn thiện hệ thống đo lường theo quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia.
3. Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tăng cường quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, nhất là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, lưu vực sông, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Kiên quyết xử lý các cơ sở sử dụng lãng phí tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chủ động các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai một cách hiệu quả nhất. Phấn đấu tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch đạt 99%, tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh đạt 89%, tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom đạt 93%.
4. Về cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Đẩy mạnh cải cách hành chính trên các lĩnh vực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chỉ số về cải cách hành chính của tỉnh. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong từng cơ quan, địa phương, cá nhân, tổ chức. Thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ. Tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài.
Tiếp tục triển khai thực hiện Luật Tiếp công dân. Đề cao trách nhiệm của Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các địa phương trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết ngay từ cơ sở, không để phát sinh thành điểm nóng, tụ tập đông người, xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài.
5. Về quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Tiếp tục tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Có các phương án tác chiến cụ thể ứng phó kịp thời các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục củng cố và xây dựng khu vực phòng thủ giữ vững nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nhất là tại các điểm nóng, các địa bàn trọng điểm.
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát đấu tranh để giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Phát huy tinh thần yêu nước và sức mạnh của toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền quốc gia. Giải quyết dứt điểm các vụ việc ở cơ sở, không để kẻ xấu lợi dụng gây biểu tình, bạo loạn phá hoại sản xuất. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, bảo đảm an ninh kết hợp với phát triển kinh tế.
 
 
 
 
Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tội phạm. Kiên quyết đấu tranh triệt phá các băng nhóm tội phạm. Tăng cường các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông. Xử lý nghiêm các vi phạm. Đổi mới công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, nhất là tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
 

[1] Theo quy định tại Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Đề ấn đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì: năm 2015 tiếp tục tính toán, công bố và sử dụng số liệu GRDP theo quy trình hiện hành để đảm bảo tính thống nhất với các năm trước trong việc đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015.
[2] Số liệu GRDP ước năm 2015 (tính theo giá SS 2010) của tỉnh do Tổng cục Thống kê công bố, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch từ năm 2016 trở đi.
[3] Bao gồm: Xã Biển hồ, xã An Phú, xã Diên Phú, xã Tân an, xã Hà Tam, xã Đăk H’lơ, xã Tân Bình, xã Nam Yang, xã Ia Phang.
[4] Bao gồm: Xã Trà Đa, xã Ia Blứ, xã An Cư, xã Phú An, xã Ayun Hạ, xã Ia Sol, xã Nghĩa Hưng, xã Ia Nhin.
[5] Bao gồm: Xã Ia Glai, xã Ia Hlôp, xã Ia Blang, xã Al Bá, xã K’Dang.
[6] Trong đó phá rừng trái phép 28 vụ (giảm 1 vụ) làm thiệt hại 37,2 ha, vi phạm về vận chuyển, mua bán, cất giấu lâm sản trái phép 683 vụ; vi phạm quy định về khai thác rừng 50 vụ; vi phạm về chế biến gỗ 11 vụ; vi phạm khác 26 vụ (giảm 1 vụ); cháy rừng 01 vụ, thiệt hại 1,44 ha tại lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ.
[7] Trong đó: Công nghiệp khai thác giảm 14,3%; công nghiệp chế biến tăng 26,37%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm 4,2%; cấp nước và hoạt động xử lý rác thải giảm 24%.
[8] CPI bình quân 11 tháng đầu năm 2015 tăng 0,26% so với cùng kỳ năm trước.
[9] Công ty TNHH MTV chè Bàu Cạn, Công ty TNHH MTV chè Biển Hồ, Công ty TNHH MTV cà phê Gia Lai.
 
[10] Toàn tỉnh hiện có 267 đơn vị thiết lập trang thông tin điện tử; 21 sở, ngành và 17 huyện, TX, TP triển khai ứng dụng phần mềm trong quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp; 100% UBND cấp huyện và hầu hết các Sở, ngành thuộc UBND tỉnh triển khai mô hình “một cửa điện tử”;
[11] Đến nay có 164 điểm Bưu điện văn hóa xã; có 237 điểm phục vụ bưu chính, giảm 48 điểm phục vụ so với cùng kỳ năm 2014. Trên địa bàn hiện có 1.343 trạm thu phát sóng (BTS), 07 trạm điều khiển thông tin di động (BSC), hơn 1,411 triệu thuê bao điện thoại, tỷ lệ điện thoại đạt 100,65 máy/100 dân. Có 63.652 thuê bao Internet, đạt 4,48 thuê bao/100 dân; tỷ lệ dân sử dụng Internet đạt 41%; 
[12] Báo Gia Lai phát hành 351 số với gần 2,127 triệu tờ; Đài tỉnh phát thanh 13.870 giờ (trong đó phát thanh tiếng Bahnar, Jrai 826 giờ), truyền hình 32.485 giờ (trong đó tiếng Bahnar, Jrai 730 giờ). Đài huyện, thị xã, thành phố: Phát thanh: 86.112 giờ; Truyền hình: 172.223 giờ. Lĩnh vực in, xuất bản phẩm thực hiện 1.601.364.000 trang với doanh thu là 34.571 triệu đồng.
[13] Nhân dịp Tết Nguyên đán đã thăm và tặng 59.367 suất quà, trị giá 7.090 triệu đồng của Chủ tịch nước, của tỉnh cho các đối tượng người có công. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng tỉnh, tỉnh đã tặng quà trị giá 3.090 triệu đồng cho 6.179 đối tượng người có công, Nhân dịp 27/7 đã cấp 10.925 suất quà, trị giá 2.217 triệu đồng của Chủ tịch nước; 91 suất quà, trị giá 91 triệu đồng của tỉnh; 4.461 suất quà, trị giá 1.274 triệu đồng của các huyện, TX, TP; 1.611 suất quà, trị giá 255 triệu đồng của các cơ quan, doanh nghiệp. Nhân dịp kỷ niêm 70 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đã cấp 119 suất quà của Chủ tịch nước, trị giá 119 triệu đồng cho đối tượng lão thành cách mạng; 62 suất quà, trị giá 80,6 triệu đồng của tỉnh. Quỹ Đền ơn đáp nghĩa tỉnh tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa và hỗ trợ vốn sản xuất cho 30 gia đình NCC có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí 450 triệu đồng.



Copyright © 2012 Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm:  Ông Nguyễn Hữu Quế
Giấy phép số:04 /GP-TTĐT  của Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai, Cấp ngày 22/6/2021.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Địa chỉ: 02 Hoàng Hoa Thám, Tp. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Điện thoại: (0269) 382-4414  /  Fax: (0269) 382-3808 - Email: skhdt@gialai.gov.vn
      Trang chủ     |   Tin tức   |   Liên hệ   |   Mobile   |   Site map