You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Tin tức - Sự kiện > Tin hoạt động sở > Những điểm sáng của Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên – Tỉnh Gia Lai

Những điểm sáng của Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên – Tỉnh Gia Lai

12/07/2019
Từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới, cuối năm 2014, Dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên tỉnh Gia Lai được triển khai tại 217 thôn, làng của 25 xã nghèo nhất thuộc 5 huyện: Krông Pa, Kông Chro, Kbang, Ia Pa và Mang Yang. Đây là dự án ODA lớn nhất của tỉnh với tổng số vốn lên tới 28,6 triệu USD và được thực hiện trong 6 năm (2014-2019). Với mục tiêu từng bước nâng cao mức sống cho người dân thông qua nỗ lực cải thiện cơ hội sinh kế ở các xã nghèo, dự án có 4 hợp phần chính gồm: phát triển cơ sở hạ tầng cấp xã và thôn; Phát triển sinh kế bền vững; Cơ sở hạ tầng kết nối, nâng cao năng lực và truyền thông; Quản lý dự án. Qua 5 năm triển khai thực hiện, đời sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng cao, diện mạo nông thôn các xã vùng dự án từng bước được khởi sắc.
1-Hoi-nghi-khoi-dong.JPG
 Hội nghị khởi động – Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên  – Tỉnh Gia Lai
Cùng với các tỉnh trong vùng dự án, Dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên – tỉnh Gia Lai được triển khai với các nội dung trọng tâm là hỗ trợ phát triển sinh kế cho người hưởng lợi. Chính sách của dự án là hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo, nhất là hộ nghèo dân tộc thiểu số bản địa. Các hộ gia đình sẽ được hướng dẫn và hỗ trợ để thành lập các Nhóm cải thiện sinh kế (LEG) và nhận những hỗ trợ trực tiếp về sinh kế theo nhóm từ 10 đến 20 hộ, từ đó các nhóm bàn bạc đề xuất, lựa chọn các tiểu dự án sinh kế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, phát huy năng lực của từng thành viên … để thực hiện mang lại hiệu quả cao nhất.
Đây là một trong những Tiểu dự án (TDA) sinh kế đầy triển vọng của dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai. Đàn heo rừng lai này đang được chăn nuôi bởi một nhóm hộ bà con người Ba Na ở làng Kráp, xã Đăk Tpang, huyện Kông Chro. Bà con vừa nhận heo về nuôi được khoảng vài tháng và đàn heo đang sinh trưởng khá tốt. Cơ bản heo rừng lai có cách thức nuôi giống với giống heo bản địa bà con thường nuôi, do đó việc tiếp cận kỹ thuật chăn nuôi là khá nhanh và thuận lợi. Đồng thời, giống heo lai được nhập từ các cơ sở cung cấp giống trong vùng nên khả năng thích nghi rất cao với thổ nhưỡng, khí hậu ở địa phương.  
Trong TDA chăn nuôi này, ngoài nguồn thức ăn do dự án cung cấp cũng tính đến tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có và dồi dào tại địa phương như bí, ngô, lúa là những nông sản các gia đình tự trồng cấy được hoặc rau rừng, cỏ dại. Tiểu dự án cũng có lợi thế khi triển khai ở các buôn làng là có diện tích rừng lớn hoặc nương rẫy lớn. Ban đầu, heo được nuôi ở chuồng trại gần nhà nhưng khi đàn sinh sôi nảy nở, phát triển, có thể mở rộng chuồng trại vào các khu rừng trồng, thậm chí rừng tự nhiên theo mô hình nông lâm kết hợp. Heo có thể sống bán hoang dã, chi phí nuôi không tốn kém mà vẫn đạt hiệu quả về sinh trưởng và chất lượng.
2-heo-rung-1.png 2-heo-rung-2.png
 Nhóm LEG nuôi heo rừng làng Kráp, xã Đăk Tpang, huyện Kông Chro  – Tỉnh Gia Lai
Tạo sinh kế, giúp người nghèo có tiền đề sản xuất, có điều kiện vươn lên thì điều quan trọng là phải xác định được nhu cầu của người dân, tiềm năng phát triển và hiệu quả kinh tế của loại cây trồng, vật nuôi. TDA nuôi heo đen ở xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai là một trong số đó. Từ việc chăn nuôi heo đen thả rông tự cung tự cấp, với sự hỗ trợ của dự án giảm nghèo, bà con ở xã Sơn Lang đã bắt đầu chuyển sang chăn nuôi bán hoang dã để làm thương mại.
            Trong TDA nuôi heo đen này, khu chuồng trại được bố trí bán hoang dã, giúp heo có điều kiện thuận lợi để sinh trưởng. Theo bà con trong làng,  trước đây bà con cũng đã nuôi giống heo đen, nhưng mỗi gia đình chỉ nuôi 1-2 con theo cách nuôi thả rông và nuôi để phục vụ các dịp lễ tết, cúng bái của gia đình, hầu như không nuôi để bán. Một trong những nguyên nhân cũng vì bà con chưa biết cách tổ chức chăn nuôi và thiếu vốn đầu tư. Do đó, sự hỗ trợ của Dự án giảm nghèo là rất hữu ích để bà con có thể từng bước nhân rộng đàn.
Lựa chọn được giống vật nuôi phù hợp, sinh trưởng tốt, giá bán cao, thị trường tiêu thụ rộng mở giúp triển vọng thì triển vọng để thoát nghèo là rất lớn. Vấn đề hiện nay là làm sao để giúp người dân thay đổi phương thức chăn nuôi, áp dụng tốt các kỹ thuật, hạn chế bệnh tật, đòi hỏi  phải có sự sát sao với công việc của Ban phát triển xã cũng như những người dẫn dắt nhóm. Việc lựa chọn những người tiên phong, dẫn dắt các nhóm hộ vì thế mà cũng rất quan trọng. Điều đáng mừng là công việc này đã được dự án chú trọng ngay từ đầu khiến việc triển khai dự án ở hầu hết các nhóm hộ đều diễn ra thuận lợi, có tiến triển và hiệu quả rõ ràng.
3-Heo-den-Son-Lang-1.JPG 3-heo-den-Son-Lang-1-(1).png
 Nhóm LEG nuôi heo đen xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
 
Xác định các hộ nghèo còn thiếu rất nhiều các điều kiện để có thể tổ chức chăn nuôi, do đó khi triển khai các TDA chăn nuôi, từ Ban quản lý dự án giảm nghèo cấp huyện cho đến cấp xã đều quan tâm, nghiên cứu để có những đề xuất hỗ trợ phù hợp với đề xuất của người dân. Như TDA nuôi heo đen hiện nay tại huyện Kbang, sự hỗ trợ bao gồm cả xây dựng chuồng trại, con giống, thức ăn, thuốc thú y, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi và cả trồng rau phục vụ chăn nuôi heo. Sự hỗ trợ tổng hợp về tất cả cả mặt này đang phát huy rất tốt hiệu quả khi giúp các hộ dân nắm vững kỹ thuật để tổ chức chăn nuôi.
Thực tiễn các TDA chăn nuôi trong khuôn khổ Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai cũng đã cho thấy: Nếu biết phát huy điều kiện tự nhiên, kết nối được người dân với nhau và lựa chọn loại vật nuôi, cây trồng phù hợp, việc giảm nghèo ở cho bà con ở các buôn làng là rất khả thi.
            Một trong những TDA sinh kế chăn nuôi đang rất thành công và được nhân rộng tốt là TDA nuôi dê lai. Đàn dê lai bách thảo này là của nhóm hộ dân làng Hra, xã Kông Yang, huyện Kông Chro được thực hiện trong khuôn khổ Dự án giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên. Đàn dê ban đầu có 27 con, chỉ sau 1 năm đã phát triển thêm 37 con nữa. Dê lai có đặc điểm là tốc độ sinh sản khá nhanh, 2 năm đẻ 3 lứa, mỗi lứa 1-2 con, nên đàn sẽ tăng nhanh chóng trong thời gian tới.
            Các hộ dân trong nhóm nuôi dê của làng phân công nhau cứ hai hộ đảm nhận chăm sóc dê một ngày, cứ thế xoay vòng cho đến hết tháng. Việc phân công cụ thể đã gắn trách nhiệm của từng hộ trong nhóm và mỗi người đều xác định rõ ràng rằng đây chính là tài sản của mình nên rất nhiệt tình trong công việc. Mọi người đoàn kết, cùng nhau thực hiện vì mục tiêu chung là  xóa nghèo.
Đặc điểm thuận lợi của các xã trong vùng Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên-tỉnh Gia Lai khi triển khai TDA nuôi dê lai là có diện tích đồng cỏ, bãi chăn thả rất lớn. Qua đó, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có ở tự nhiên, có thể phát triển đàn dê quy mô lớn mà không lo thiếu nguồn thức ăn cho bầy dê. Đồng thời, một trong những điều kiện tiên quyết giúp TDA nuôi dê lai ở các xã phát triển là thị trường đầu ra rất ổn định. Ở từng địa bàn đều có khá nhiều công ty, thương lái có nhu cầu mua dê để cung cấp cho thị trường. Bà con chỉ việc nuôi, còn thương lái, công ty sẽ đến tận nơi thu mua mà không phải chở đi bán. TDA nuôi dê đang mang theo kỳ vọng thoát nghèo cho cho nhiều nhóm hộ ở các buôn làng.
4-De-lai-Kong-Yang-1.jpg 4-De-lai-Kong-Yang2.png
Nhóm LEG nuôi dê lai  làng Hra, xã Kông Yang, huyện Kông Chro , tỉnh Gia Lai
 
Cùng với chăn nuôi thì trồng trọt cũng là nội dung trọng tâm trong phát triển sinh kế của Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên-tỉnh Gia Lai. Liên kết người nghèo với nhau, và liên kết người nghèo với Nhà máy để tạo ra một chuỗi sản xuất khép kín, hiệu quả đang là mục tiêu hướng đến và đã có một số cách làm hay trong khuôn khổ dự án. Điển hình có thể nói đến là TDA cánh đồng mẫu lớn trên cây mía đang được áp dụng ở nhiều buôn làng thuộc các huyện phía Đông và Đông Nam tỉnh như Kbang, Kông Chro, Ia Pa và Krông Pa.
Ông Đinh A Chi, một cựu chiến binh, người có uy tín ở làng Krối, xã Lơ Ku trồng mía theo TDA cánh đồng lớn đến nay là năm thứ hai. Ông bắt đầu trồng mía từ khi có sự hỗ trợ của Dự án giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên- huyện Kbang. Trên diện tích 5,5 sào, năm ngoái ông thu được 60 tấn mía cây và thu về hơn 50 triệu đồng, một khoản tiền khá lớn đối với gia đình ông. Nhìn vườn mía đang xanh tốt, ông A Chi cho rằng, năng suất vụ mía năm nay sẽ còn cao hơn nhiều so với năm ngoái, hứa hẹn mang về khoản thu cao hơn.
Những diện tích đất liền thửa được ghép chung với nhau, người nghèo, nông dân liên kết với nhau để cùng thực hiện canh tác theo lối sản xuất lớn, áp dụng đồng bộ khoa học, kỹ thuật. Đó thực sự là một cuộc cách mạng trong thay đổi phương thức sản xuất của bà con các buôn làng khi thực hiện mô hình cánh đồng mía mẫu lớn. Tại làng Krối trước đây năng suất mía rất thấp. Nguyên nhân là vì bà con sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Hai năm trở lại đây, khi được Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên hỗ trợ, bà con đã có điều kiện và mạnh dạn tham gia trồng mía. Hiện tại, có 17 hộ dân ở làng Krối đã tham gia trồng mía theo mô hình cánh đồng lớn với  diện tích 16,5ha. Năm ngoái, diện tích mía này cho năng suất bình quân 105 tấn mía cây/ha, cao hơn vượt trội so với năng suất mía bình quân của vùng Đông Gia Lai cũng như huyện Kbang với chỉ khoảng 60-70 tấn mía cây/ha. Kéo theo đó, lợi nhuận từ trồng mía của nhóm hộ cũng được nâng cao đáng kể và góp phần tích cực để xóa đói, giảm nghèo.
Nhưng chăn nuôi và trồng trọt, đôi khi không cần phải là những mô hình lớn lao, cần vốn lớn, cần nhiều sức và nhiều người, có những mô hình tưởng chừng như rất nhỏ, ở quy mô hộ gia đình nhưng lại rất thiết thực. TDA trồng rau, nuôi gà ở xã Lơ Pang, huyện Mang Yang là một điển hình.
Đàn gà này là của gia đình chị Đar, Trưởng nhóm trồng rau- nuôi gà làng H’lim, xã Lơ Pang. Chị Đar tham gia nuôi gà trong khuôn khổ Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên đến nay là năm thứ hai. Gà được nuôi nhốt cẩn thận với chế độ chăm sóc ổn định, phòng trừ bệnh hiệu quả nên sinh trưởng khá tốt. Chị Đar đã nắm vững được kỹ thuật nuôi gà nhờ được hướng dẫn kỹ càng từ đội ngũ cán bộ kỹ, khuyến nông và tư vấn dự án. Cùng với nguồn thức ăn là cám chuyên dùng do dự án hỗ trợ, việc nuôi gà của chị Đar cũng gặp nhiều thuận lợi khi tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có như ngô, lúa là những nông sản gia đình tự trồng cấy được. Do đó, chi phí nuôi gà không cao mà hiệu quả là rất rõ ràng. Không chỉ cung cấp thức ăn, cải thiện dinh dưỡng cho bữa ăn của gia đình, số gà nuôi được còn để bán cho những người có nhu cầu, từ đó cải thiện thêm thu nhập.
6-Hinh-nuoi-ga.png 6-nuoi-ga.png
Nhóm LEG trồng rau- nuôi gà làng H’lim, xã Lơ Pang , Mang Yang, tỉnh Gia 

Còn đây là TDA trồng rau của gia đình chị Then, làng H’lim, xã Lơ Pang. Trong khuôn viên sân nhà, chị Then đã thiết kế khu đất trồng rau theo Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên. Sau khi kết thúc đợt rau trước, chị Then đang gây trồng lại lứa rau mới và  dự kiến chỉ 1 tuần nữa sẽ bắt đầu có rau xanh để ăn. Một số giống rau cũng đang được chị ươm trồng. Trồng rau xanh nhìn thì đơn giản là vậy nhưng với chị Then thì đây là một sự thay đổi lớn về nhận thức dinh dưỡng, rau xanh trong bữa ăn. Trước đây, gia đình chị chủ yếu chỉ ăn lá sắn (mỳ) nhưng lá sắn cũng không có thường xuyên vì phụ thuộc vào vụ mùa. Gia đình không có nguồn rau xanh nào khác và thiếu rau xanh diễn ra thường xuyên trong các bữa ăn. Đến nay, khi có sự hỗ trợ thiết thực của Dự án giảm nghèo cả về giống lẫn kỹ thuật, chị Then đã có thể tự trồng rau và đã có thể tự túc nguồn rau cho bữa ăn của gia đình.
5-Hinh-trong-rau.png 5-Trong-rau.png
 Nhóm LEG trồng rau- nuôi gà làng H’lim, xã Lơ Pang , Mang Yang, tỉnh Gia 
 
Lơ Pang là xã vùng sâu với tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm trên 95%, chủ yếu là bà con người Ba Na. Điều kiện kinh tế, xã hội của xã còn nhiều khó khăn và nhận thức của người dân về làm kinh tế cũng còn nhiều hạn chế. Do đó, Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên nói chung, tiểu dự án trồng rau, nuôi gà nói riêng đã góp phần tích cực trong việc làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của bà con nhân dân trong xã Lơ Pang. Hiệu quả này không chỉ riêng với những hộ tham gia dự án mà còn được nhân rộng trong những hộ dân lân cận. Nhiều hộ ở các làng khi thấy dự án làm có hiệu quả đã tiến hành học hỏi, làm theo.
Xưa nay để thay đổi nếp nghĩ cách làm với người đồng bào BaNa là một chuyện không hề dễ dàng, tuy nhiên đối với nhóm hộ người Ba Na tại làng Sơ Rơn – Xã Chư Krei – Huyện Kông Chro lại là một câu chuyện đầy mới mẻ, cùng với sự nỗ lực của bà con và sự hỗ trợ của cán bộ dự án đã tạo nên một sự khác biệt. Cái cách mà người Ba Na trồng bí đỏ ở đây cũng khá là đặc biệt, tham gia nhóm LEG có 18 hộ nghèo và cận nghèo có cùng chung sở thích, triển khai trên diện tích 6 ha, để trồng giống bí cho năng suất cao, quả ngon, bà con áp dụng biện pháp Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) vào sản xuất ngay trên ruộng bí của mình nhằm bảo vệ những côn trùng có ích tiêu diệt những côn trùng có hại, từ đó giảm phun thuốc trừ sâu tránh gây ô nhiễm môi trường, cộng với phủ bạc nilon theo luống đã hạn chế được cỏ dại, giữ ẩm cho đất từ đó giảm được chi phí. Bên cạnh đó bà con lại áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt để vừa điều tiết, tiết kiệm nước tưới vừa cung cấp phân bón cho bí, nhờ hệ thống này, nước và phân bón được đưa đến từng gốc bí với lượng vừa đủ giúp cho cây bí phát triển tốt, nhiều quả. Chỉ sau thời gian ngắn gần 03 tháng ruộng bí đã cho thu hoạch, sau khi trừ đi hết các khoản chi phí, lợi nhuận mang lại 30 triệu/1ha. Cách làm hay, hiệu quả và thiết thực này thay cho cách làm mà trước đây bà con chỉ tra hạt rồi giao cho ông trời đợi đến ngày thu. Chính điều này đã tạo động lực mạnh mẻ vươn lên thoát nghèo cho bà con nơi đây.
Song song với các hoạt động của dự án, hoạt động Nâng cao năng lực, truyền thông cũng được chú trọng ngay từ đầu triển khai và trong suốt quá trình thực hiện dự án. Hoạt động truyền thông của dự án đa dạng và phong phú, thông qua các kênh truyền hình, phát thanh, báo chí, tờ rơi, áp pích, sách ảnh, qua các cuộc hội nghị, hội thảo đã tuyên truyền sâu rộng, chuyển tải đầy đủ thông tin đến người dân trong vùng dự án đặc biệt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số để họ tham gia thực hiện dự án có hiệu quả đảm bảo tính công khai minh bạch. Ngoài ra công tác truyền thông tập trung nâng cao nhận thức của người dân, thay đổi tư duy trong sản xuất cũng được chú trọng. Trong năm 2017, Dự án đã tổ chức hội thảo liên kết thị trường kêu gọi các doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào dự án, qua đó  đã tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp với nông dân, giúp nông nghèo có đầu ra tiêu thụ sản ổn định hướng đến phát triển bền vững. Bên cạnh đó ở các huyện dự án tổ chức các cuộc thi nhóm cải thiện sinh kế giỏi nhằm tạo sân chơi bổ ích để các hộ nghèo trong vùng dự án có cơ hội giao lưu học hỏi, chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức giúp nhau thoát nghèo. Cùng với đó công tác nâng cao năng lực giúp cho các bộ dự án có đầy đủ kiến thức chuyên môn hỗ trợ tốt cho công việc của dự án. Trong 04 năm qua dự án đã tổ chức được 81 lớp tập huấn cho 14.789 lượt người là cán bộ tỉnh, huyện, xã, thôn/bản. Chính vì vậy trong suốt quá trình thực hiện dự án mọi việc đều thông suốt,  tiến độ đảm bảo. Ngoài ra, các lớp tập huấn dinh dưỡng đã giúp cho các bà mẹ đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi biết cách chăm sóc, chế biến thức ăn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm giảm thiểu tỉnh trạng suy dinh dưỡng của trẻ em trong độ tuổi.  Không những thế dự án còn chú trọng công tác nâng cao năng lực cho các thành viên trong nhóm LEG, đã tổ chức 455 lớp cho 9.119 thành viên về kỹ thuật cây trồng, vật nuôi với phương pháp tập huấn ngay tại hiện trường “cầm tay chỉ việc” đã giúp cho bà con dễ dàng tiếp cận với kiến thức và áp dụng để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
Qua 05 năm triển khai, dự án giảm nghèo tại Gia Lai đã đạt được những kết quả tích cực, số người dân được hưởng lợi từ chương trình dự án khoảng 94.827 người. Dự án không chỉ nâng cao đời sống người dân thông qua nâng cao năng suất, sản lượng, lợi ích kinh tế từ sản phẩm nông nghiệp do các hoạt động sinh kế mang lại, người dân còn được tiếp cận nhiều hơn đến các biện pháp khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, thường xuyên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, tạo nên sự liên kết, lan tỏa trong cộng đồng cùng nhau học tập, nâng cao năng lực sản xuất để xóa đói, giảm nghèo. Hơn thế, khi tham gia dự án, người dân còn có ý thức, trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững. Đặc biệt, dự án còn cải thiện rõ nét hệ thống cơ sở hạ tầng cấp xã và cấp thôn, từ đó hỗ trợ phát triển sinh kế, giảm chi phí vận chuyển, cải thiện điều kiện sinh hoạt, tăng cường tiếp cận dịch vụ công và tạo việc làm trong xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc đầu tư được xác định có trọng điểm ở những nơi cần thiết nhất cho việc giao thông, giao thương của người dân vùng sâu nên dù nguồn vốn không lớn nhưng vẫn tạo đã tạo ra những hiệu quả thiết thực.
Đoạn đường thuộc đường liên xã Kon Pne và Đăk Rong đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Bề mặt bê tông rộng 3,5m và tính cả hai bên lề được lu nền đất là 9m, rất thuận tiện cho người dân cũng như các loại xe có thể lưu thông. Người dân trong khu vực này cho biết, con đường trước đây là đường đất, rất nhỏ hẹp, mùa khô thì bụi bặm còn mùa mưa thì bùn lầy, giao thông, giao thương cách trở. Thậm chí những đợt mưa kéo dài, nhiều đoạn không thể đi lại và giao thông qua đây cũng bị chia cắt. Người dân nơi đây đã mơ ước một con đường thuận tiện từ rất lâu và nay thì ước mơ đó đã trở thành hiện thực. Với những buôn làng cũng như các xã vùng sâu, vùng xa một trong những yếu kém nhất chính là hạ tầng giao thông. Đó cũng là rào cản đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi này. Xác định được điều đó, Dự án giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai đã tiến hành đầu tư nhiều công trình giao thông giúp bà con ở các buôn làng đi lại thuận tiện hơn, tạo điều kiện để xóa đói, giảm nghèo một cách bền vững.
7-Duong-Kon-Pne-2.png 7-Duong-Kon-Pne-3.png
Đường liên xã Kon Pne và Đăk Rong – Huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
Hai xã Kon Pne và Đăk Rong từng được coi là vùng trũng về kinh tế của huyện Kbang vì giao thông cách trở. Các loại hàng hóa, nông sản làm ra rất khó tiêu thụ và nếu bán được thì với giá thấp hơn đáng kể so với những vùng thuận lợi. Khi Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên triển khai tại huyện, một số đoạn đường xung yếu nhất, khó khăn nhất được người dân, chính quyền các xã đề xuất và đã được phê duyệt với tổng  nguồn vốn khoảng 21 tỷ đồng và có gần 9 km. Giao thông, giao thương thuận tiện, tạo điều kiện để sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển. Các loại cây trồng dần được mở rộng làm động lực cho phát triển kinh tế.
Hay như tuyến đường độc đạo để bà con làng Ơi H’trông cùng nhiều làng khác trong xã Chư Mố, huyện Ia Pa đi vào khu sản xuất sông Tul. Trước đây, khi chưa được đầu tư, tuyến đường này rất lầy lội và gần như không có phương tiện nào có thể đi được. Do đó, các loại nông sản như lúa, ngô, sắn làm ra, bà con chủ yếu phải gùi từ đồng ruộng, nương rẫy ra con đường chính, rất vất vả và tốn thời gian. Việc vận chuyển phân bón, vật tư nông nghiệp để chăm sóc cây  trồng cũng rất tốn công, tốn sức. Cũng vì thế mà chi phí sản xuất đội lên, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, nhu nhập. Rất may khi Dự án giảm nghèo triển khai trên địa bàn, bà con làng Ơi H’trông đã đề xuất và được phê duyệt triển khai.

8-Duong-Ia-Pa.png 8-Duong-Ia-Tul.png
 Đường đi vào khu sản xuất sông Tul – Huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai
Điều quan trọng khi thực hiện các dự án đường giao thông ở vùng sâu, vùng xa là tính hiệu quả lâu dài. Những con đường này sẽ ít có kinh phí để duy tu, bảo dưỡng nên khi thi công phải đảm bảo chất lượng cao nhất, phục vụ bà con được lâu nhất.
            Trên cơ sở đấu thầu rộng rãi, công khai, Ban quản lý dự án các huyện sẽ lựa chọn những nhà thầu có kinh nghiệm và có khả năng thực hiện các công trình hiệu quả nhất, vừa đảm bảo tiến độ vừa đảm bảo chất lượng. Quá trình triển khai thi công của nhà thầu cũng gặp rất nhiều thuận lợi vì nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền lẫn người dân địa phương trong giải phóng mặt bằng.
Không chỉ sẽ tạo ra sự kết nối giao thông, điểm cộng cho hạng mục công trình hạ tầng trong khuôn khổ Dự án giảm nghèo Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương. Các nhóm thợ ở tại địa phương đã tham gia xây dựng đường thuộc Dự án giảm nghèo, mỗi ngày được trả công 200.000 đồng. Người dân vừa có thu nhập, cải thiện cuộc sống, vừa có thể học hỏi kinh nghiệm, nâng cao tay nghề, rất hữu ích cho công việc về sau.
Hay như việc thi công sân nhà rông làng Boòng, xã Đăk Tpang đều sử dụng công nhân là người dân địa phương. Tuy chưa phải  là những thợ chuyên nghiệp nhưng tay nghề của họ đủ để đáp ứng yêu cầu công việc có phần khá đơn giản. Đây chính là điểm cộng trong việc thực hiện tiểu dự án này, vì đã sử dụng được nguồn nhân lực sẵn có  ở địa phương, tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho chính những người địa phương.
9-San-nha-rong-Tpang.png 9-Nha-rong-Dak-Tpang.png
 Sân nhà rông làng Boòng, xã Đăk Tpang – Huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.

Xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, dựa trên những nguồn lực sẵn có ở cộng đồng, chú trọng tất cả các yếu tố từ  kinh tế đến văn hóa là đều đã được xác định rõ trong tất cả các hạng mục đầu tư hạ tầng của Dự án giảm nghèo Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai. Điển hình như việc đầu tư xây dựng Nhà Cộng đồng, Sân nhà rông ở các buôn làng vùng sâu. Đối với bà con ở làng Bòong, xã Đăk Tpang, huyện Kông Chro Nhà rông là công trình quan trọng nhất. do được xây dựng nên bởi công sức của cả cộng đồng, nên đây là một không gian tinh thần, có sức mạnh tình cảm to lớn, gắn kết mọi người. Chính vì vậy, khi dự án giảm nghèo triển khai, với hạng mục xây dựng công trình, làng Boòng đã lựa chọn việc xây sân nhà rông. Việc lựa chọn xây dựng công trình dựa trên quyết định chung của tất cả các hộ dân trong làng thông qua các buổi họp diễn ra ngay tại Nhà rông. Để rồi sau đó bà con đề xuất lên Ban phát triển xã, Ban quản lý dự án huyện.
Các công trình hạ tầng liên quan tới văn hóa tuy chỉ là dự án nhỏ nhưng lại mang ý hết sức lớn lao, mang lại thêm niềm vui, niềm tự hào cho bà con ở các buôn làng. Niềm vui ấy cổ vũ, động viên bà con thêm tin yêu vào cuộc sống, thêm đoàn kết, thêm động lực để cùng nhau phấn đấu làm ăn, phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tiến tới giảm nghèo nhanh và bền vững.
            Như công trình Nhà cộng đồng của làng A Ma Rin 2. Nhu cầu nhà cộng đồng để sinh hoạt, vui chơi rất cần thiết nhưng cũng như nhiều làng khác, trước đây bà con không có đủ nguồn lực để đầu tư. Khi Dự án giảm nghèo triển khai, bà con trong làng thấy rằng Nhà cộng đồng cần được ưu tiên hơn cả. Bởi thiếu Nhà cộng đồng, bà con thiếu mất một không gian để hội họp, khó có thể thống nhất các quyết sách của làng. Trước khi triển khai xây nhà cộng
đồng, quỹ đất của làng không có nên làng đã đề xuất góp tiền mua đất để xây. Khoản đóng góp này được coi là khoản “đối ứng” của bà con với dự án và được tất cả dân làng đồng thuận, chia đều cho từng hộ dân.
11-Nha-sinh-hoat-CĐ-Ia-Pa.png 11-Nha-sinh-hoat-cong-dong-Ia-Pa.png
Để đạt được những thành công trong quá trình thực hiện Dự án giảm nghèo Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai, một trong những đội ngũ không thể không nhắc tới đó là các Hướng dẫn viên cộng đồng. Ngoài chủ thể của dự án là các nhóm hộ ở các buôn làng thì đội ngũ đông đảo nhất, gắn bó mật thiết nhất với dự án không ai khác là những Hướng dẫn viên cộng đồng. Họ đã cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con và cũng là nhịp cầu kết nối trực tiếp bà con với dự án. Họ được đánh giá là không khác gì cán bộ chuyên môn như khuyến nông, cán bộ thú y. Tiến độ các tiểu dự án nhanh hay chậm, hiệu quả hay không có phần quan trọng của đội ngũ này và rất may mắn, Dự án giảm nghèo Tây Nguyên- tỉnh Gia Lai đã lựa chọn được một đội ngũ có trình độ, tâm huyết, bám bản, bám làng, từ đó mọi khó khăn, vướng mắc của người dân được giải quyết tháo gỡ kịp thời, các hoạt động của dự án tại địa phương được thông suốt.
10-Hinh-CF-2.JPG 10-hinh-CF.jpg
Cán bộ Hướng dẫn viên cộng đồng hướng dẫn kỹ thuật cho bà con
Nhớ lại 5 năm trước, vào tháng 5 năm 2014, tại Thành phố Pleiku, Bộ Kế hoạch Đầu tư phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội nghị khởi động Dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên. Theo đánh giá của WB thời điểm đó, Tây Nguyên nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng là vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa phát triển và cũng dễ tiếp cận các vùng kinh tế đầu mối như Đà Nẵng, Nha Tran