You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Tin tổng hợp > Trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp

Trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp

22/04/2020
1/ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
          1.1 UBND tỉnh và UBND các huyện, thị xã xem xét trích ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho nông dân áp dụng các chương trình cày ngầm, tưới chống hạn để phát triển sản xuất mía trong điều kiện khó khăn do biến đổi khí hậu. Đầu tư cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông, ..) để phục vụ phát triển liên kết sản xuất, hình thành các HTX.
Trả lời:
          Nhằm phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ trong nông nghiệp, ngày 06/12/2018 Hội đồng Nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND về phê duyệt chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng thiết kế; hỗ trợ hạ tầng phục vụ liên kết; hỗ trợ khuyến nông, đào tạo, tập huấn và giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm, trong đó đối tượng thụ hưởng là doanh nghiệp, tổ chức đại diện của nông dân và nông dân.
          Ngoài ra, để xem xét, hỗ trợ doanh nghiệp được hưởng các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Ngày 16/6/2019, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 320/QĐ-UBND về ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Gia Lai. Ngày 26/11/2019, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 39/2019/QĐ-UBND về quy định phân cấp thẩm quyền phê duyệt hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
          Thực hiện Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Quyết định quy định nội dung, mức chi hỗ trợ các hoạt động liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai trình UBND tỉnh ban hành; dự thảo hướng dẫn xây dựng hồ sơ, thủ tục hành chính dự án (kế hoạch) liên kết gắn với tiêu thụ sản phầm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
1.2 Chỉ đạo các sở, ngành, huyện, thị xã vùng mía phối hợp cùng Nhà máy Đường An Khê, AyunPa tập trung đầu tư phát triển vùng nguyên liệu mía, đặc biệt là sản xuất mía theo mô hình cánh đồng lớn tập trung, áp dụng triệt để giống mía mới và cơ giới hóa từ khâu cày trồng đến thu hoạch máy, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng mía, đem lại lợi nhuận cao nhất cho người trồng mía. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho người dân để phá gốc trồng lại vụ tơ, dồn điền… tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện sản xuất mía theo mô hình cánh đồng lớn.
Trả lời:
          Để tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu mía ổn định theo chuỗi giá trị gia tăng và bền vững, đề nghị các doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất mía trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng vùng nguyên liệu đảm bảo khoa học, thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm mía đường, đẩy mạnh cơ giới hóa từ khâu làm đất đến thu hoạch và đưa các giống mía mới chất lượng tốt, đạt năng suất cao vào sản xuất để nâng cao năng suất cây mía, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình trồng, chăm sóc, chế biến; khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị gia tăng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây mía
2/ Sở Tài nguyên và Môi trường:
          2.1 Tạo điều kiện thuận lợi trong tích tụ đất đai, cấp GCNQSD đất để chủ đất  yên tâm liên kết, không sợ mất đất khi liên kết sản xuất với DN; chủ động áp dụng cơ giới hóa canh tác mía để giảm chi phí.
Trả lời:
          Việc tích tụ đất đai để liên kết sản xuất, thời gian qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, ngành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nông nghiệp và người dân có đất sản xuất nông nghiệp thực hiện nhiều hình thức như: chuyển nhượng, góp vốn[1], liên kết bằng quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tạo sự tích tụ đất đai lành mạnh theo pháp luật, để khai thác, phát triển sản xuất, mở rộng quy mô nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp gắn dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn, nhất là các huyện phía Đông có nhiều doanh nghiệp có chức năng nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt ở địa bàn các huyện như: Ia Pa, Phú Thiện, Ayun Pa, Krông Pa, Kông Chro..., tạo điều kiện thuận lợi về đất đai để thực hiện dự án đầu tư, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại và doanh nghiệp.
          Trong đó, người nhận chuyển quyền sử dụng đất để tích tụ đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chủ sử dụng đất yên tâm về mặt pháp lý để chuyển nhượng, góp vốn, liên doanh, liên kết cùng doanh nghiệp tránh rủi ro, tranh chấp và đưa đất đai sử dụng đúng mục đích đem lại hiệu quả cao nhất.
          Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong mở rộng diện tích đất, tích tụ đất đai, tỉnh cũng đã đề nghị Bộ TN&MT trình Quốc hội sửa đổi Luật đất đai 2013 về hạn mức và thời gian sử dụng đất (vấn đề này hiện nay Bộ TN&MT đang lấy ý kiến).
          2.2 UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất, công trình thủy lợi về địa phương (phương án, số liệu đã thống nhất với các cơ quan liên quan). Thống nhất diện tích quản lý của các công ty, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để công ty ký hợp đồng thuê đất.
Trả lời:
          Căn cứ Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty nông, lâm nghiệp;
            Căn cứ Thông tư số 02/2015/TT-BNNPTNT ngày 27/01/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn xây dựng đề án và phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới Công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ;
          Căn cứ Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT ngày 26/02/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về lập Phương án sử dụng đất; lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất; đo đạc lập bản đồ địa chính; xác định giá thuê đất; giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với Công ty nông, lâm nghiệp,
          Sau khi các Công ty nông nghiệp đứng chân trên địa bàn tỉnh lập Phương án sử dụng đất. Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Sở, ngành và chính quyền địa phương tổ chức thẩm định. Trong đó có diện tích đất các công trình hồ, đập thủy lợi. Theo đó, trên cơ sở nhu cầu của các Công ty nông nghiệp giữ lại các công trình hồ, đập thủy lợi để phục vụ sản xuất, kinh doanh và không còn nhu cầu sử dụng trả lại địa phương đã được thể hiện tại Phương án sử dụng đất được UBND tỉnh phê duyệt. Căn cứ vào Phương án sử dụng đất được phê duyệt, UBND tỉnh thu hồi đất các hồ, đập thủy lợi mà các Công ty không còn nhu cầu sử dụng giao lại địa phương quản lý; cho thuê đất (cấp GCNQSD đất) đối với các hồ, đập thủy lợi giữ lại để phục vụ sản xuất, kinh doanh theo quy định.
2.3 Tạo điều kiện tổ chức đo đạc lại hiện trạng đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê đất lại cho Chi nhánh Công ty 75 (Tổng công ty 15 kiến nghị)
Trả lời:
          Năm 2017, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã báo cáo danh sách các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện sắp xếp, đổi mới theo Nghị định số 118/2014/NĐ ngày 17/12/2014 của Chính phủ: Về sắp xếp đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp (văn bản số  2305/BNN-QLDN ngày 20/3/2017). Trong đó có 04 Công ty:  Công ty TNHH MTV 72; Công ty TNHH MTV 715; Công ty TNHH MTV 74; Công ty TNHH MTV Bình Dương thuộc Binh đoàn 15 tại Gia Lai, được Chính phủ hỗ trợ kinh phí để đo đạc, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; lập phương án sử dụng đất, cho thuê đất và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng Chi nhánh Công ty 75 thuộc Tổng công ty 15 khi rà soát báo cáo của đơn vị sẽ được sắp xếp đổi mới theo mô hình của Tổng công ty 15, nên không thuộc đối tượng được hỗ trợ việc đo đạc lập bản đồ địa chính trong năm 2017. Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tổng hợp danh sách các Chi nhánh công ty thuộc Tổng công ty 15, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và PTNT trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để hỗ trợ việc đo đạc lập bản đồ địa chính trong Đề án tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường theo Nghị quyết số 112/2015/NQ-QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng.
3/ Sở Công thương:
          3.1 Có biện pháp chế tài hiệu quả các Công ty, Nhà máy Đường tự ý phá vỡ quy hoạch, cạnh tranh mua bán mía trong vùng nguyên liệu đã được quy hoạch cho Nhà máy Đường An Khê, nhằm thực hiện đúng Quyết định 681/QĐ-UBND, ngày 07/10/2010 của UBND tỉnh Gia Lai về việc phê duyệt Quy hoạch trồng trọt gắn với công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Gia Lai đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 để Nhà máy và người dân tập trung đầu tư phát triển vùng nguyên liệu mía công nghiệp ổn định, bền vững, đáp ứng đủ nguyên liệu cho công suất chế biến đường.
Trả lời:
          Thực hiện Quyết định số 681/QĐ-UBND ngày 07/10/2010, Quyết định số 572/QĐ-UBND ngày 10/10/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch trồng trọt gắn với công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Trong đó, diện tích phân bổ quy hoạch vùng nguyên liệu mía cho Nhà máy đường An Khê – Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi là 14.250 ha tại các địa điểm:
- Các xã Thành An, phường An Bình của thị xã An Khê;
- Các xã Kon Bla, Đăk Hlơ, Kon Lơng Khơng, Tơ Tung của huyện Kbang;
- Toàn bộ các xã trên địa bàn huyện Kông chro;
- Toàn bộ các xã trên địa bàn huyện Đăk Pơ.
          Hiện nay việc tranh mua, tranh bán nguyên liệu mía trên địa bàn tỉnh nói chung và các huyện phía Đông của tỉnh vẫn còn xảy ra, chủ yếu là do các nhà máy ngoài tỉnh tổ chức mua lại nguyên liệu mía từ các tư thương mua mía nguyên liệu của người dân trên địa bàn, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của các nhà máy đường và gây ảnh hưởng đến việc ổn định và phát triển vùng nguyên liệu mía với nhiều lý do khách quan như: Nhà máy mua mía của từng hộ theo thời kỳ chạy máy, lượng mía mua tương ứng với công suất tiêu thụ mía của nhà máy, thời gian mua mía trải dài từ đầu niên vụ đến cuối niên vụ nên thường người dân không chờ đợi được theo kế hoạch mua mía của nhà máy. Đối với các hộ dân trồng mía lại, trồng tái canh các loại cây trồng khác, Nhà máy chưa xây dựng kế hoạch mua mía hợp lý, chưa có chính sách tuyên truyền, vận động người dân thực hiện theo kế hoạch thu mua mía của nhà máy để kế hoạch mua mía đảm bảo sự hợp tác, lợi ích giữa nhà máy và người trồng mía nên phần lớn các hộ dân tự ý thu hoạch mía ồ ạt, không theo kế hoạch phân bổ của Nhà máy để gây sức ép cho nhà máy thu mua, từ đó có cơ sở bán mía cho các nhà máy ngoài tỉnh. Việc tổ chức thu mua mía nguyên liệu, giải quyết các xe chở mía nguyên liệu tại nhà máy còn chậm, số lượng xe chở mía tại nhà máy tồn đọng nhiều, gây khó khăn trong công tác quay đầu xe để chở tiếp nguyên liệu mía.    Bên cạnh đó, việc giải quyết các xe chở mía quá lâu sẽ gây thất thoát một lượng mía cho người nông dân (vì để lâu trên xe sẽ gây mất nước, giảm trọng lượng mía nguyên liệu), làm thiệt hại về kinh tế. Đây cũng là một trong những lý do nông dân chở mía bán cho các nhà máy ngoài tỉnh. Các nhà máy ngoài tỉnh như Kon Tum, Phú Yên, Đăk Nông không tổ chức đầu tư đầu vụ cho nông dân nhưng đã tăng cường tổ chức và có các chính sách ưu đãi cho các tư thương đi thu gom mua mía nguyên liệu đã gây mất ổn định vùng nguyên liệu mía trên địa bàn tỉnh. Một số hộ nông dân không trung thực, nhận tiền đầu tư của nhà máy nhưng lại cố tình bán mía cho nhà máy khác với mục đích cố tình chiếm dụng tiền đầu tư của nhà máy.
          Tuy nhiên, mặt hàng mía nguyên liệu không phải là mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Tuy các hộ dân đầu tư trồng mía trong vùng quy hoạch cho nhà máy đường nhưng một số hộ nông dân không nhận tiền đầu tư của Nhà máy, họ có quyền bán mía cho các thương lái theo cơ chế thị trường, không thuộc đối tượng ràng buộc của Nhà máy nào. Do vậy, để giải quyết được vấn đề trên đề nghị Công ty phải làm tốt một số công việc sau:
          - Phải tăng cường công tác hỗ trợ đầu tư đầu vụ cho người dân bằng các hình thức như: tiền mặt, giống, kỹ thuật, …. Nhà máy cam kết mua mía của nông dân, cam kết giá thu mua, thời gian, sản lượng thu mua để các hộ dân an tâm trồng và bán mía nguyên liệu cho nhà máy, góp phần ổn định và bảo vệ vùng nguyên liệu; Bên cạnh đó, nhà máy xây dựng và công khai minh bạch kế hoạch trồng mía, kế hoạch thu mua mía, công khai giá thu mua mía hàng tuần trên nhiều kênh khác nhau như: tại nhà máy, tại trạm thu mua, chính quyền địa phương, … và có kế hoạch giải quyết các xe chở mía một cách nhanh chóng, tối ưu, hợp lý nhằm giảm thiểu thiệt hại cho xe chở mía cũng như người nông dân; Đồng thời cử nhân viên nắm bắt tình hình, tâm tư nguyện vọng của nông dân để có sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân và nhà máy; có chính sách hỗ trợ ứng tiền cho nông dân trong các dịp lễ, tết, hỗ trợ cho các hộ nông dân công ty mua mía muộn do làm thiệt hại về chữ đường, rủi ro bị cháy mía, trễ vụ, phối hợp tốt với chính quyền địa phương tuyên truyền người dân bảo vệ và ổn định vùng nguyên liệu mía trên địa bàn.
          - Tăng cường công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ nhân viên nhà máy, nhất là đối với cán bộ nhân viên trực tiếp làm việc với người dân như cán bộ phát lệnh đốn mía, sắp xếp lịch nhập mía, cán bộ nông vụ… Đồng thời thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm các cá nhân sai phạm, nhũng nhiễu và có hành vi tiêu cực trong việc thu mua mía của nhà máy với người nông dân.
          - Đề nghị Công ty xem xét, củng cố hồ sơ tiến hành khởi kiện theo quy định của pháp luật để làm gương và mang tính răn đe, hạn chế tình trạng vi phạm hợp đồng của nông dân với Nhà máy- Nhà máy chấp hành nghiêm các văn bản chỉ đạo của Sở Giao thông vận tải và bản cam kết không chở hàng quá tải, quá khổ; đồng thời, Nhà máy có biện pháp xử lý nghiêm đối với các xe chở mía quá tải, quá khổ.
3.2 Có biện pháp để hạn chế đi đến chấm dứt việc tranh giành mua nguyên liệu sắn từ những địa phương khác, dẫn đến  nhà máy chế biến tinh bột sắn thiếu nguyên liệu sản xuất, dẫn đến thua lỗ (Công ty TNHH SX-TM NLS Đường Vạn Phát).
Trả lời:
Mặt hàng sắn nguyên liệu không phải là mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Tuy các hộ dân đầu tư trồng sắn trong vùng quy hoạch nhưng nếu các hộ dân không ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, không nhận tiền đầu tư của Nhà máy, họ có quyền bán sắn cho các thương lái theo cơ chế thị trường, không thuộc đối tượng ràng buộc của Nhà máy nào. Do vậy, để giải quyết triệt để vấn đề trên đề nghị Công ty phải làm tốt một số công việc sau:
Để ổn định vùng nguyên liệu sắn phục vụ sản xuất của nhà máy, Công ty phải tăng cường công tác ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm nguyên liệu sắn, hỗ trợ đầu tư đầu vụ cho người dân bằng các hình thức như: tiền mặt, giống, kỹ thuật, …. Nhà máy cam kết mua nguyên liệu sắn của nông dân, cam kết giá thu mua hợp lý, thời gian, sản lượng thu mua để các hộ dân an tâm trồng và bán sắn nguyên liệu cho nhà máy, góp phần ổn định và bảo vệ vùng nguyên liệu; Bên cạnh đó, nhà máy xây dựng và công khai minh bạch kế hoạch thu mua sắn, công khai giá thu mua sắn hàng tuần trên nhiều kênh khác nhau như: tại nhà máy, tại trạm thu mua, chính quyền địa phương, … và có kế hoạch giải quyết các xe chở sắn một cách nhanh chóng, tối ưu, hợp lý nhằm giảm thiểu thiệt hại cho xe chở sắn nguyên liệu cũng như người nông dân; Đồng thời cử nhân viên nắm bắt tình hình, tâm tư nguyện vọng của nông dân để có sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân và nhà máy; có chính sách hỗ trợ ứng tiền cho nông dân trong các dịp lễ, tết, ...; phối hợp tốt với chính quyền địa phương tuyên truyền người dân bảo vệ và ổn định vùng nguyên liệu sắn trên địa bàn. Đồng thời, Đề nghị Công ty xem xét, củng cố hồ sơ tiến hành khởi kiện theo quy định của pháp luật để làm gương và mang tính răn đe, hạn chế tình trạng vi phạm hợp đồng của nông dân với Nhà máy.
3.3 Sở Công Thương cần kịp thời cung cấp cho DN thông tin thị trường trong và ngoài nước, nhất là đối với các sản phẩm của tỉnh và có những khuyến nghị cụ thể. Tăng cường thúc đẩy việc thực hiện thương mại điện tử cho các DN.
Trả lời:
Về cung cấp thông tin thị trường nước ngoài:
          Năm 2019, Sở Công Thương đã hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường thông qua các hoạt động như:
          - Mời các doanh nghiệp trên địa bàn tham dự các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư vào thị trường trên thế giới[2]; tham dự các Hội nghị, Hội thảo và Chương trình.[3] Thông báo Kế hoạch Xúc tiến thương mại do Cục Xúc tiến thương mại - Bộ Công Thương chủ trì tổ chức trong năm 2019 gửi đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đăng ký tham gia.
          - Sở đã ký hợp đồng với Cổng thông tin thị trường nước ngoài www.vietnamexport.com cung cấp một cách có hệ thống thông tin thị trường nước ngoài về hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Thông tin Thị trường nước ngoài được cung cấp bởi các đơn vị của Bộ Công Thương và hệ thống tên 60 Thương vụ Việt Nam tại các nước, được cung cấp hàng tháng, hàng tuần để Sở Công Thương tổng hợp và cập nhật thường xuyên trên Website Sở tại địa chỉ http://sct.gialai.gov.vn (mục Cơ hội giao thương) để cung cấp đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh; đồng thời, cung cấp thông tin Bản tin thị trường nông lâm thủy sản của Bộ Công Thương liên kết tại địa chỉ website Sở Công Thương http://sct.gialai.gov.vn; tổng hợp danh sách Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài được liên kết tại website Sở (mục danh sách Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài) cung cấp đến các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.
          Về cung cấp thông tin thị trường trong nước:
           - Ban hành các văn bản hướng dẫn Quyết định số 634/QĐ-TTg ngày 29/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014 - 2020; Thông báo Kết luận số 264-TB/TW ngày 31/7/2009 của Bộ Chính trị về tổ chức Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Kết luận số 107-KL/TW ngày 10/4/2015 của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện cuộc vận động “Người việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 04/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư phát triển và hoạt động mua sắm thường xuyên sử dụng vốn nhà nước…
          - Cung cấp và kết nối thông tin cho các tổ chức, cá nhân có những sản phẩm đặt trưng của từng địa phương giao thương với nhau nhằm mục đích tìm đầu ra cho sản phẩm, ưu tiên những sản phẩm nằm trong chương trình OCOP. Thông tin Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018-2020 theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 17/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 23/01/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030.
          - Phối hợp với các cơ quan báo chí và hệ thống thông tin cơ sở trên địa bàn tỉnh tuyên truyền, phổ biến nội dung, ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; góp phần làm cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh ý thức được tinh thần tự lực tự cường, tự tôn dân tộc trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng Việt Nam, từng bước thay đổi nhận thức và hành vi trong sinh hoạt và tiêu dùng hàng ngày theo hướng tạo thành thói quen khi mua sắm, tiêu dùng, ưu tiên sử dụng các loại hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ do các doanh nghiệp, nhà sản xuất, kinh doanh của Việt Nam làm ra, góp phần xây dựng văn hóa tiêu dùng người Việt Nam.
          - Phối hợp với Báo Gia Lai  và Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh thường xuyên có các tin, bài, phóng sự với nhiều hình thức phong phú, thiết thực về thị trường trong tỉnh cũng như thị trường các tỉnh bạn đồng thời thông tin về Quảng bá các sản phẩm, dịch vụ hàng hóa Việt Nam đạt chất lượng cao, những thương hiệu có uy tín trên thị trường nhằm tạo dựng niềm tin đối với người tiêu dùng. Cập nhật, thông tin giá cả thị trường, giới thiệu các mặt hàng của các thương hiệu trong nước và địa phương, cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, giới thiệu sản phẩm và cung cấp các thông tin về chất lượng của hàng hóa giúp doanh nghiệp dần khẳng định thương hiệu trong lòng người tiêu dùng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường, nhắc nhở doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với người tiêu dùng và có ý thức hơn trong việc giữ uy tín của mình bằng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm.
          Về thúc đẩy phát triển Thương mại điện tử cho các doanh nghiệp:
          - Sở Công Thương Gia Lai phối hợp với Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Gia Lai, Trung tâm phát triển Thương mại điện tử - Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, thời gian qua đã tích cực phổ biến, tuyên truyền về TMĐT trên địa bàn tỉnh thông qua các Hội nghị, các chuyên mục phát sóng trên Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Gia Lai, trên website của Sở Công Thương. Chủ trì phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổ chức lớp tập huấn cho cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh. Hỗ trợ xây dựng Website cho doanh nghiệp và hợp tác xã, tính đến thời điểm hiện nay, Sở đã hỗ trợ xây dựng 66 Website cho các doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.
          - Sở Công Thương đã đưa vào hoạt động Hệ thống thu nhập và quản lý trực tuyến thông tin xuất nhập khẩu Gia Lai tại địa chỉ www.xnkgialai.gov.vn, hệ thống đã và đang được triển khai đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn, giúp cho việc thu thập thông tin, số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn nhanh chóng, tiện lợi; bên cạnh đó hệ thống đã cung cấp các thông tin, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.
          - Sở Công Thương đã phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số xây dựng phần mềm Cơ sở dữ liệu Công nghiệp và Thương mại tỉnh Gia Lai tại địa chỉ: http://csdlcntmgialai.gov, nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ các yêu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước về Công Thương.
          - Xây dựng và vận hành phần mềm Bản đồ trực tuyến hệ thống phân phối hàng Việt trên địa bàn tỉnh tại địa chỉ http://bandohangvietgialai.vn/  phục vụ nhu cầu cung cấp thông tin cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng hàng Việt của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn. Mời gọi các doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia các sàn thương mại điện tử như: amazon.com, ocopgialai.vn...
          - Năm 2019, Sở Công Thương phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương hỗ trợ xây dựng và cấp 12 phần mềm quản lý dữ liệu khách hàng và xúc tiến bán hàng trực tuyến cho các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.Trong năm 2020, Sở Công Thương tiếp tục phổ biến,tuyên truyền, tổ chức 01 lớp tập huấn về TMĐT cho các cơ quan, doanh nghiệp và hợp tác xã; tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX trên địa bàn xây dựng website và tham gia sàn giao dịch TMĐT. Xây dựng 10 bộ nhận diện thương hiệu trực tuyến các sản phẩm chủ lực của tỉnh cung cấp cho 10 DN, HTX, cơ sở sản xuất... trên địa bàn tỉnh. Xây dựng Kế hoạch phát triển thương mại điện tử tỉnh Gia Lai giai đoạn 2021-2025 trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
4/ UBND huyện Krông Pa:
Tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty CP Việt Á (trồng rừng nguyên liệu tại Krông Pa) sửa chữa đường để khai thác, vận chuyển gỗ.
Trả lời:
          Công ty CP Việt Á xin sửa chữa đường để khai thác vận chuyển gỗ rừng trồng, UBND huyện Krông Pa luôn ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để công ty thực hiện. Tuy nhiên tuyến đường xin sửa chữa đi qua nhiều diện tích đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất, gây thiệt hại đến rừng tự nhiên (Theo tờ trình số 07/TTVA ngày 07/01/2020 của Công ty CP Việt Á; đoạn đường xin sửa chữa dài 4.800m; dài 4m, tổng trữ lượng gỗ thiệt hại 69.09m3. Căn cứ Luật Lâm nghiệp 2007, Nghị định số 156/2018NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, UBND huyện Krông Pa không có thẩm quyền cho phép việc sửa chữa, mở đường nói trên. 
5/ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Gia Lai:
5.1 Công ty TNHH Hương Đất kiến nghị Ngân hàng xem xét cho vay sản xuất rau quả được thế chấp tài sản trên đất do đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trường hợp này ở tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện).
Trả lời:
          Căn cứ khoản 3, Điều 39, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm thì hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất gồm: Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc một trong các loại giấy chứng nhận quy định tại khoản 2 Điều 97 của Luật đất đai.
          Do đó, việc thế chấp tài sản trên đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng theo đề nghị của Công ty TNHH Hương Đất không có cơ sở để thực hiện.
5.2 . Ngân hàng Nhà nước có chính sách giảm lãi suất cho vay để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp và hộ nông dân trồng cà phê.
Trả lời:
          Theo quy định tại Khoản 1, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: ‟Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”.
          Tại khoản 2, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn: a) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định củaChính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; b) Thực hiện phương ánkinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại; c) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; d) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; đ) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao”.
          Như vậy, các doanh nghiệp và hộ nông dân trồng cà phê được áp dụng lãi suất tối đa cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 5 lĩnh vực ưu tiên quy định tại khoản 2, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (hiện nay là 5,5%/năm, riêng Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô áp dụng mức lãi suất tối đa là 6,5%/năm theo Quyết định số 420/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016).
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp và hộ nông dân trồng cà phê gặp khó khăn thì tùy từng trường hợp cụ thể, các chi nhánh Ngân hàng thương mại sẽ xem xét, có giải pháp phù hợp như điều chỉnh giảm lãi suất để hỗ trợ, chia sẻ một phần khó khăn cho khách hàng theo quy định của NHNN Việt Nam và của từng hệ thống Ngân hàng thương mại.
6/ Bảo hiểm xã hội tỉnh:
Đặc thù của ngành cà phê, toàn bộ sản phẩm đều thu về cuối năm, mới có sản phẩm bán, nếu thu nộp BHXH hàng quý như hiện nay việc tìm nguồn để nộp rất khó khăn. BHXH tỉnh Gia Lai xem xét thu BHXH vào tháng 12 để tạo điều kiện cho doanh nghiệp chi trả.
Trả lời:
          Hàng năm BHXH tỉnh đều có văn bản hướng dẫn các đơn vị thuộc ngành cà phê trên địa bàn tỉnh xây dựng phương án đóng nộp BHXH, BHYT, BHTN và chấp nhận phương án đóng nộp 3 tháng một lần. việc các đon vị, doanh nghiệp cà phê đề nghị BHXH tỉnh xem xét thu BHXH vào tháng 12 là không đúng theo quy định Khoản 5, Điều 85, Điều 86 Luật BHXH năm 2014 và Khoản 2, Điều 7 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định phương thức đóng BHXH đối với các doanh nghiệp, đơn vị, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm khoán thì đóng BHXH theo phương thức hàng tháng hoặc 3 tháng, 6 tháng một lần.
7/ Sở Xây dựng:
7.1 Chỉ đạo quy hoạch khu dân cư tại các khu vực có diện tích phát triển cây cao su (đặc biệt đối với diện tích đất rừng chuyển đổi sang trồng cây cao su) để tạo điều kiện cho đơn vị đưa dân vào định cư và làm công nhân ổn định lâu dài. (Tổng Công ty 15 kiến nghị)
Trả lời:
          Chỉ đạo quy hoạch khu dân cư tại các khu vực có diện tích phát triển cây cao su (đặc biệt đối với diện tích đất rừng chuyển đổi sang trồng cây cao su) để tạo điều kiện cho các đơn vị đưa dân vào định cư và làm công nhân ổn định lâu dài.
          UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền trực tiếp lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; vì vậy đề nghị Tổng công ty 15 liên hệ các địa phương mà công ty đã chuyển diện tích đất cao su để phối hợp giải quyết nhu cầu đất cho công nhân.
7.2 Sở Tài chính và Sở Xây dựng ban hành giá vật liệu xây dựng  (đặc biệt là giá đá các loại) và giá nhân công phải theo kịp giá thực tế để đảm bảo hiệu quả sản xuất của các DN xây dựng.
Trả lời:
          Ban hành giá vật liệu xây dựng (đặc biệt là giá đá các loại) và giá nhân công theo kịp giá thực tế để đảm bảo hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng.
          Ngày 14/8/2019 Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2019/NĐ-CP Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thay thế cho Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015; theo đó Bộ Xây dựng ban hành các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 68/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2020.
Để góp phần giải quyết các yêu cầu chuyển tiếp và đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản, Sở Xây dựng đã phối hợp với các Sở ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan triển khai ngay công tác khảo sát để công bố giá vật liệu xây dựng, giá nhân công mới, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng mới.
          Kết quả ngày 14/02/2020 Sở Xây dựng đã ban hành văn bản số 223/SXD-QLXD về ban hành giá nhân công xây dựng tạm thời và hướng dẫn cách lập dự toán theo các văn bản pháp luật mới. Ngày 17/3/2020 Sở Xây dựng đã ban hành Công bố số 01/2020/SXD-CBGVL Công bố giá vật liệu xây dựng quý I/2020 trên địa bàn tỉnh; Văn bản số 486/SXD-QLXD ngày 17/3/2020 Công bố đơn giá nhân công xây dựng; giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng mới. Theo đó các ngành đã thống nhất vận dụng mức cao nhất mà các văn bản pháp luật cho phép, giá vật liệu xây dựng với mức phù hợp với thực tế trên thị trường (giá đá, cát xây dựng…).
8/ Cục Thuế tỉnh:
8.1 Kiến nghị Chính phủ có chính sách ưu đãi, cơ chế đặc thù, hỗ trợ lãi suất vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính để con người, phương tiện, máy móc qua lại biên giới đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp quân đội nói riêng khi đầu tư tại Campuchia (Tổng công ty 15 kiến nghị). Nội dung này sẽ được đưa vào kiến nghị Chính phủ.
8.2 Ngành Thuế cần tích cực hướng dẫn về chế độ kế toán, chính sách thuế đối với các hộ kinh doanh thành lập DN và các DN khởi nghiệp. Hướng dẫn, uốn nắn là chính; hạn chế tối đa việc xử phạt hành chính trong 3 năm đầu đi vào hoạt động.
Trả lời:
          Về hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp thành lập từ hộ cá thể ngành Thuế đã tuyên truyền, hỗ trợ chính sách thuế mới bằng nhiều hình thức như tập huấn, gửi văn bản… Các trường hợp chậm kê khai hồ sơ khai thuế đều được gọi điện, thông báo nhắc nhở để hạn chế việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
          Ngành Thuế đã chủ động tăng cường cải cách thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, đến nay đạt 100% doanh nghiệp kê khai, nộp thuế điện tử, hoàn thuế GTGT cũng thực hiện theo phương thức điện tử. Các thủ tục về mua hóa đơn, hoàn thuế TNCN cũng được thực hiện nhanh chóng, đúng thời gian quy định của Luật Quản lý thuế.
9/ Sở Tài chính:
          Sở Tài chính và Sở Xây dựng ban hành giá vật liệu xây dựng  (đặc biệt là giá đá các loại) và giá nhân công phải theo kịp giá thực tế để đảm bảo hiệu quả sản xuất của các DN xây dựng.
Trả lời:
          Căn cứ Nghị định số 68/2019/NĐ-CP ngày 14/8/2019 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn, Sở Xây dựng đã có Công văn số 175/SXD-QLXD ngày 07/02/2020 về việc công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai đề xuất UBND tỉnh. Xét Công văn số 175/SXD-QLXD ngày 07/02/2020 của Sở Xây dựng, UBND tỉnh có ý kiến tại Công văn số 290/UBND-CNXD ngày 11/02/2020 như sau:
          - Giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan thông báo phổ biến, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung theo đúng quy định tại các Thông tư của Bộ Xây dựng hướng dẫn triển khai Nghị định số 68/2019/NĐ-CP ngày 14/8/2019 của Chính phủ (khảo sát, thu thập thông tin, xác định các giá, đơn giá liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng; hướng dẫn áp dụng đơn giá…).
          - Ủy quyền cho Sở Xây dựng công bố giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, giá ca máy, giá thuê máy và thiết bị thi công, chỉ số giá xây dựng, phù hợp với mặt bằng giá thị trường tại địa phương theo định kỳ hoặc khi có sự thay đổi lớn về giá; hướng dẫn việc áp dụng định mức và xử lý chuyển tiếp đối với các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 290/UBND-CNXD ngày 11/02/2020, Sở Tài chính đã phối hợp với Sở Xây dựng kiểm tra, rà soát giá VLXD, để Sở Xây dựng thực hiện công bố giá theo quy định.
10/ Sở Lao động Thương binh và Xã hội:
Các nhà máy sản xuất trong tỉnh hiện thiếu lao động phổ thông và lao động kỹ thuật, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội có biện pháp gì để giải quyết? Sở đánh giá mặt hạn chế nhất trong công tác đào tạo lao động và dạy nghề  là gì và biện pháp khắc phục, đồng thời thông tin về cung-cầu lao động trong năm 2020 để doanh nghiệp biết?
Trả lời:
          Một số biện pháp hỗ trợ các nhà máy sản xuất trong tỉnh hiện thiếu lao
động phổ thông và lao động kỹ thuật.
          Chỉ đạo Trung tâm Dịch vụ Việc làm tỉnh tăng cường triển khai các hoạt động thu thập, khảo sát nhu cầu tìm việc làm của người lao động, nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp.
          Tăng cường và nâng cao chất lương  tổ chức các sàn giao dịch việc làm định kỳ và lưu động tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.
          Đẩy mạnh việc hỗ trợ tuyển dụng miễm phí cho các doanh nghiệp có nhu
cầu ủy thác.
           Đa dạng hóa phương thức và nâng cao hiệu quả kết nối thông tin Cung -
Cầu lao động giữa các doanh nghiệp với Trung tâm Dịch vụ Việc làm  và Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp;  giữa Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
          Biện pháp khắc phục hạn chế trong công tác đào tạo lao động
          Hạn chế:
          Công tác giáo dục định hướng và phân luồng Học sinh phổ thông còn hạn
chế và chưa đồng bộ, nên tuyển sinh còn khó khăn.
          Sự  gắng kết giữa Doanh nghiệp -  Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Trung
tâm Dịch vụ Việc làm chưa khăn khít và hiệu quả.  
          Giải pháp khắc phục:
          Tăng cường phối hợp với ngành Giáo dục – đào tạo để triển khai hiệu quả
          Kế hoạch số 2134/KH-UBND ngày 26/9/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về việc thực hiện Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông” trên địa bàn tỉnh.
          Nâng cao hiệu quả kết nối giữa Doanh nghiệp -  Cơ sở giáo dục nghề nghiệp - Doanh nghiệp và Trung tâm Dịch vụ Việc làm để gắn việc làm sau đào tạo v với nhu cầu của các doanh nghiệp.
          Tăng cường hoạt động phối hợp giữa Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội với các Sở, ngành liên quan và Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh để nâng cao hiệu quả việc triển khai các chính sách ưu đãi của nhà nước trong đào tạo nghề cho  người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp và Người lao động hưởng    Bảo hiểm thất nghiệp muốn chuyển đổi việc làm.
          Tăng cường thông tin về Cung - Cầu lao động đến các doanh nghiệp:
          -  Chỉ đạo Trung tâm Dịch vụ  việc  làm cập nhật thường xuyên, đầy đủ; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt  động  của trang thông tin “Cung - Cầu lao động trên địa bàn tỉnh gia Lai” (www.vieclamgialai.vn) .
          - Có kế hoạch Truyền thông, quảng bá sâu rộng trang thông tin điện tử www.vieclamgialai.vn; “việc tìm người – người tìm việc” của Gia Lai  đến các doanh nghiệp và người lao đông đang tìm việc.
11/ Tòa án nhân dân tỉnh:
 Ngành Tòa án án cho biết tình hình và có biện pháp gì để khuyến khích các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng tòa án để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh?
Trả lời:
          Thực tế hiện nay hệ thống Tòa án nhân dân đã và đang giải quyết các chanh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật tố tụng và Luật Tổ chức Tòa án. Hiện nay, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai chưa có biện pháp gì để khuyến khích các doanh nghiệp thường xuyên lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh.
12/ Sở Khoa học và công nghệ:
Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Thông tin&Truyền thông có kế hoạch, giải pháp gì để thúc đẩy ngày càng có nhiều DN ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; thực hiện thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4?
Trả lời:
          Với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và thực hiện cải cách hành chính, trong thời gian qua, Sở KH&CN đã đẩy mạnh cung cấp DVC trực tuyến, tăng cường mức độ, phạm vi cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Sở, phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu đẩy mạnh hiện đại hóa nền hành chính trên địa bàn tỉnh.
Căn cứ vào nhu cầu đề nghị giải quyết thủ tục hành chính do Sở KH&CN cung cấp của người dân, doanh nghiệp, trong thời gian qua Sở KH&CN đã cung cấp 13 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 02 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; để người dân, doanh nghiệp biết và sử dụng, Sở KH&CN đã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện thông qua các hoạt động trao đổi công việc chuyên môn, qua Trang thông tin điện tử Sở, văn bản thông báo gửi các sở, ngành, doanh nghiệp, qua mạng xã hội Facebook, Zalo.
          Có một số tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đề nghị Sở KH&CN giải quyết thủ tục hành chính đã quan tâm thực hiện phương thức trực tuyến, nộp và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4. Tuy nhiên, tỷ lệ DVCTT có phát sinh hồ sơ còn thấp, tức người dân, doanh nghiệp không sử dụng các DVCTT này, ảnh hưởng đến hiệu quả cung cấp DVC trực tuyến của Sở nói riêng, của tỉnh nói chung.
          Một số giải pháp đẩy mạnh cung cấp DVC trực tuyến:
          - Tiếp tục tăng cường truyền thông và quảng bá hiệu quả về dịch vụ công trực tuyến của cơ quan để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ hơn về lợi ích mang lại từ việc sửu dụng dịch vụ công trực tuyến. Chú trọng đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng thụ hưởng.
Việc triển khai thực hiện công tác tuyên truyền DVCTT thực hiện đồng bộ theo một chương trình tuyên truyền về cải cách hành chính nói chung. Quan tâm về nội dung tuyên truyền: triển khai xây dựng tài liệu giới thiệu dịch vụ, nêu bật được các lợi ích người dân, doanh nghiệp được thụ hưởng; tài liệu hướng dẫn cần được thể hiện dưới dạng các hình thức hình ảnh minh họa hướng dẫn, video hướng dẫn thực hiện cụ thể một DVCTT đăng tải trên Trang thông tin điện tử; thiết kế các tài liệu hướng dẫn theo từng bước thực hiện dịch vụ dưới dạng tờ gấp để cung cấp cho người dùng tại bộ phận một cửa.
          - Tiếp tục triển khai công tác phối hợp giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp: hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ sử dụng máy tính, internet cho người dân. Hợp tác với các doanh nghiệp như Bưu điện, ngân hàng để hỗ trợ triển khai DVCTT như chuyển trả kết quả qua Bưu điện, thanh toán phí, lệ phí trực tuyến…
          - Căn cứ vào nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, Sở tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (người sử dụng có thể thực hiện thanh toán lệ phí (nếu có) trực tuyến và việc trả kết quả được thực hiện trực tuyến) nhằm giúp tổ chức, người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) mà hoàn toàn không phải đến cơ quan nhà nước.
          - Triển khai xây dựng, áp dụng ISO điện tử theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động hành chính nhằm thực hiện thủ tục hành chính khoa học, nhanh chóng hơn; quá trình kiểm soát mọi công việc mang tính hệ thống, không rời rạc, nhờ đó, lãnh đạo Sở có thể nắm được tình hình thực hiện thủ tục hành chính công tại đơn vị tốt hơn; đồng thời giúp người dân tiết kiệm rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức thông qua việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính bằng hình thức trực tuyến.
13/ Sở Thông tin và truyền thông:
          Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Thông tin &Truyền thông có kế hoạch, giải pháp gì để thúc đẩy ngày càng có nhiều DN ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; thực hiện thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4?
Trả lời:
          Để thúc đẩy ngày càng nhiều các doanh nghiệp tham gia dịch vụ công trực tuyến, Sở Thông tin và Truyền thông đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo:
          Đối với các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố có cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4:


          - Các cơ quan nhà nước khi thực hiện các thủ tục hành chính với cơ quan
nhà nước khác thì không được nộp trực tiếp, phải nộp trực tuyến để từng bước
đẩy mạnh việc sử dụng DVCTT mức độ 3,4
          - Tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà
nước trong ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết thủ tục hành chính, thực
hiện đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, hướng dẫn để người dân, tổ chức và doanh nghiệp tích cực sử dụng và hiểu được lợi ích của việc sử dụng các
DVCTT mức độ 3 và 4; có thể tham khảo, áp dụng các giải pháp đã thực hiện ở
UBND thị xã AYun Pa và Sở Giao thông - Vận tải (tuy mới triển khai nhưng đã
có phát sinh nhiều hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ cao) để tăng tỷ lệ hồ sơ giải quyết:
          + Truyên truyền lưu động, xe loa cổ động, Pano, băng rôn, khẩu hiệu, gửi báo, đài thông báo tuyên truyền dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 của đơn vị.
          + Treo băng rôn“Tỉnh Gia Lai đẩy mạnh sử dụng Dịch vụ công trực tuyến” tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của đơn vị mình.
          + Thực hiện tuyên truyền đến các thôn, tổ dân phố hoặc lồng ghép trong các buổi họp, sinh hoạt của tổ dân phố để người dân biết và sử dụng DVCTT mức độ 3,4
          + Tạo lập file hướng dẫn quy trình thực hiện các bước thực hiện trực
tuyến đối với các thủ tục hành chính đã xây dựng DVCTT mức độ 3 và 4 và
đăng tải lên cổng/trang điện tử của đơn vị, địa phương, đồng thời niêm yết tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
          + Ký kết hợp tác với Bưu điện tỉnh và ngân hàng để phối hợp tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng (bước đầu có thể phối hợp với cán bộ ở bộ phận một cửa làm hộ) DVCTT mức độ 3 và 4 cho người dân, tổ chức, doanh
nghiệp tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của đơn vị, địa phương mình để lần
sau người dân, doanh nghiệp sử dụng DVCTT mức độ 3,4 khi nộp hồ sơ; đồng
thời khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ bưu chính công ích
để gửi - nhận hồ sơ và kết quả tại nhà và trả phí, lệ phí qua mạng (không phải đến cơ quan nhà nước). Từng bước chuyển một số công việc cho Bưu điện thực hiện.
          + Tăng cường đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ đảm bảo cán bộ tại
Bộ phận Một cửa của từng đơn vị nắm đầy đủ về thủ tục hành chính theo từng
nhóm lĩnh vực của đơn vị, từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thực
hiện, quản lý và nâng cao chất lượng cung cấp DVCTT.
          + Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin của đơn vị,
địa phương, quan tâm đến vấn đề an toàn, an ninh thông tin.
          Bưu điện tỉnh Gia Lai, các ngân hàng thương mại cần phải:
          - Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Bưu điện tỉnh trong việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích.
          - Phối hợp với các đơn vị, địa phương để tuyên truyền, vận động, hướng
dẫn người dân và doanh nghiệp thực hiện DVCTT mức độ 3 và 4; đào tạo, tập
huấn cho nhân viên Bưu điện, ngân hàng cách sử dụng phần mềm DVCTT mức
độ 3 và 4, hiểu về quy trình thủ tục hành chính của từng đơn vị để hướng dẫn cho người dân và doanh nghiệp sử dụng DVCTT mức độ 3 và 4.
          Sở Thông tin và Truyền thông:
          - Tham mưu UBND tỉnh các giải pháp kỹ thuật để tăng cường đảm bảo về
an toàn và an ninh thông tin cá nhân khi sử dụng DVCTT mức độ 3 và 4.
          - Chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan để kết nối Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh với Cổng dịch vụ công trực tuyến uốc gia.
          - Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện cung cấp DVCTT mức độ
3,4 theo quy định; đưa các tiêu chí về cung cấp DVCTT mức độ 3, 4 vào xét thi
đua ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính hằng năm tại các cơ quan, đơn vị, địa phương
          - Xây dựng, chuẩn hóa các DVCTT mức độ 3 và 4 trên các thiết bị di động thông minh; qua mạng xã hội Zalo... để tạo thuận tiện cho công dân, doanh
nghiệp.
          Để tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các doanh nghiệp trên trên địa bàn tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị: Hiệp hội Doanh nghiệp của tỉnh: Hướng dẫn các doanh nghiệp tăng cường
ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và
4; sử dụng dịch vụ bưu chính công ích; các dịch vụ chuyển phí, lệ phí trực tuyến; kịp thời phản ánh các nội dung còn chưa đạt về Sở Thông tin và Truyền thông để xử lý, nếu vượt quá thẩm quyền Sở Thông tin và Truyền thông sẽ xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh.
          Câu hỏi 3: Cho biết về nội dung, tiện ích của mạng Zalo mà tỉnh ta vừa xây dựng và hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh trong thời gian tới?
Trả lời:
          Hiện nay, nhu cầu người dùng Zalo tại Việt Nam rất lớn, do đó, việc ứng dụng trên Zalo để giải quyết các thủ tục hành chính đem lại hiệu quả tương đối lớn. Sau khi công dân, doanh nghiệp gửi hồ sơ qua mạng Internet
bằng dịch vụ công mức độ 3, 4; thông qua Zalo, công dân và doanh nghiệp có
thể tự tra cứu tiến độ xử lý hồ sơ, tra cứu các thông tin cần thiết, cho ý kiến về
mức độ hài lòng, nhắn tin trao đổi trực tiếp mỗi khi có thắc mắc hay cần góp ý,
kịp thời hỗ trợ công dân, doanh nghiệp bất kể trong hay ngoài giờ làm việc.
Ngoài ra, trên Zalo còn công khai các thông tin công dân, tổ chức quan tâm trên
Cổng thông tin điện tử của tỉnh; tuyên truyền các chủ trương, chính sách… đến
công dân, tổ chức; các thông tin liên quan đến tính minh bạch và tiếp cận thông
tin cũng đã được cung cấp để công dân, doanh nghiệp tra cứu như: tài liệu pháp
lý; tài liệu quy hoạch, kế hoạch; thông tin mời thầu; giá đất; dự án kêu gọi đầu
tư…Sở Thông tin và Truyền thông đã ướng dẫn chi tiết các bước sử dụng bằng
hình ảnh thực tế được đăng tải trên website của các Sở, ban, ngành, UBND các
huyện, thị xã, thành phố.
          2. Với mục tiêu nâng cao tỷ lệ cải cách hành chính tỉnh Gia Lai,
Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Gia Lai đi vào hoạt động từ ngày
02/9/2018 đã tạo bước đột phá trong công tác cải cách thủ tục hành chính
(TTHC) và hiện đại hóa nền hành chính nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Trước đây, để giải quyết một
thủ tục, các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thường phải đi lại khá vất vả,
thông qua nhiều công đoạn, nhiều cơ quan nên dễ dẫn tới tình trạng ách tắc,
chậm trễ trong việc thẩm định, giải quyết hồ sơ. Trung tâm Phục vụ hành chính
công tỉnh chính thức đi vào hoạt động đã trở thành đầu mối tập trung để cơ quan
chuyên môn, các sở, ban, ngành cấp tỉnh, tiếp nhận và phối hợp giải quyết
TTHC nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả giải quyết TTHC của cơ quan nhà
nước; đồng thời tăng cường tính liên thông trong giải quyết TTHC, bảo đảm
nhanh chóng, công khai, minh bạch, không có khâu trung gian, giảm chi phí đi
lại, chi phí thực hiện, góp phần cải thiện chất lượng công vụ, xây dựng chính
quyền đồng hành, phục vụ hướng tới sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân
trên địa bàn tỉnh.
 

[1] Việc sử dụng đất thông qua hình thức nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh được quy định tại Điều 73, Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Trình tự, thủ tục đăng ký và xóa đăng ký góp vốn quyền sử dụng đất được quy định cụ thể tại Điều 79, Điều 79a, Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, trong đó Việc xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn được quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
 
[2] Hội chợ thương mại Việt Nam - Băng la đét; Tham gia đoàn giao dịch xúc tiến thương mại tại Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức; Đoàn giao dịch xúc tiến thương mại đầu tư Liên bang Nga và Cộng hòa Phần Lan; Đoàn Xúc tiến đầu tư thương mại tại Hàn Quốc; Đoàn Xúc tiến thương mại tại Hoa Kỳ; Đoàn Giao dịch thương mại và Đầu tư tại Romania và Bulgaria; Đoàn Giao dịch xúc tiến thương mại tại Tây Ban Nha và Cộng hòa Liên bang Đức; Đoàn Xúc tiến thương mại quốc gia tại thành phố Gia-các-ta, In-đô-nê-xi-a; Đoàn xúc tiến thương mại quốc gia tại Karachi, Pakistan; Đoàn quảng bá địa phương tại Nhật Bản; Chương trình Xúc tiến thương mại tại Ấn Độ; Chương trình Tuần Việt Nam tại Ấn Độ; Chương trình tuần hàng Việt Nam - Hà Nội 2019 tại các hệ thống phân phối nước ngoài các nước Pháp, Nhật Bản.
[3] Hội nghị thượng đỉnh doanh nhân toàn cầu tại Toronto - Canada; Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam - Nam Phi và xúc tiến thương mại tại Nam Phi; Chương trình “Hỗ trợ doanh nghiệp Việt nam tiếp cận thị trường thế giới với Amazon.com”; Diễn đàn doanh nghiệp Việt nam - UAE; Diễn đàn xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2019 tại Hà Nội; Hội thảo "Triển vọng hợp tác và phát triển thương mại tại thị trường Trung Đông - Châu Phi"; Hội nghị Xúc tiến thương mại Thái Lan-Việt Nam quốc tế mở rộng; Chương trình học tập và khảo sát thực tế tại Mỹ năm 2019.
 



Copyright © 2012 Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm:  Ông Hồ Phước Thành
Giấy phép số: /GP-TTĐT  của Cục QL Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Địa chỉ: 02 Hoàng Hoa Thám, Tp. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Điện thoại: (0269) 382-4414  /  Fax: (0269) 382-3808 - Email: skhdt@gialai.gov.vn
      Trang chủ     |   Tin tức   |   Liên hệ   |   Mobile   |   Site map